Bản án 66/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 66/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Lệ T1, sinh năm 1977 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 149/9, ấp HĐ, thị trấn PH, huyện T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 149/9, ấp HĐ, thị trấn PH, huyện T, tỉnh An Giang.

(Đã được tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị Lệ T1 trình bày:

Khoảng tháng 01 năm 2014, chị và anh Nguyễn Thành T2 quen biết và được gia đình hai bên cha mẹ đồng ý chị và anh T2 chung sống với nhau từ năm 2014, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn PH, huyện T ngày 30/5/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 30/12/2015. nhưng đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do về kinh tế, căng thẳng kéo dài, không ai quan tâm ai, anh T2 đi làm không đưa tiền phụ giúp gia đình mà còn vay mượn nợ bên ngoài. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2017 đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành T2.

- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh N sinh ngày 30/12/2015 (hiện đang sống với chị). Sau khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T2 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Nguyễn Thành T2: Trong quá trình thụ lý vụ án và hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đương sự đến lần thứ hai nhưng anh T2 không gửi văn bản ghi ý kiến của bản thân cũng không đến tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T2.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ theo các quy định của pháp luật, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Lệ T1. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh N sinh ngày 30/12/2015 cho chị Trần Thị Lệ T1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Thành T2 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Thành T2 có địa chỉ tại ấp HĐ, thị trấn PH, huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Thành T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Thành T2.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Lệ T1 với anh Nguyễn Thành T2 chung sống với nhau từ năm 2014, mặc dù không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn PH, huyện T, tỉnh An Giang ngày 30/5/2016. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Lệ T1, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T1 và anh T2 chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. nhưng đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do kinh tế khó khăn, căng thẳng kéo dài, không còn quan tâm lẫn nhau, anh T2 đi làm không đưa tiền phụ giúp gia đình mà còn vay mượn nợ bên ngoài. Vì thương con còn nhỏ chị T1 cố gắng chịu đựng nhưng anh T2 vẫn không thay đổi nên chị T1 và anh T2 đã ly thân từ tháng 11/2017 cho đến nay. Mặc dù biết chị T1 nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng anh T2 cũng không đến liên hệ, không có ý định thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T1 để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung. Về phía anh T2, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh T2, tạo điều kiện cho anh T2 hàn gắn tình cảm với chị T1 nhưng anh T2 không đến tham dự các phiên hòa giải, xét xử và cũng không có văn bản nào nêu ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của chị T1. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Thành T2 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Lệ T1.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Thành T2 có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh N sinh ngày 30/12/2015 (hiện đang sống với chị T1). Xét yêu cầu xin nuôi con của chị T1, Hội đồng xét xử nhận thấy: hiện tại cháu Quỳnh N đang được chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Cho nên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và ổn định cuộc sống của cháu Quỳnh N, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị T1 giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh N cho chị T1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhưng chị T1 phải tạo điều kiện cho anh T2 đến thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Tại phiên tòa hôm nay, chị T1 không yêu cầu anh T2 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, khi có điều kiện và tình hình thời gian thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chị Trần Thị Lệ T1 yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức T1, miễn, giảm, T1, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Lệ T1.

 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Lệ T1 được ly hôn với anh Nguyễn Thành T2.

Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2016 ngày 30 tháng 5 năm 2016 của Ủy ban nhân dân thị trấn PH, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung:

Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh N sinh ngày 30/12/2015 (hiện đang sống với chị T1) cho chị Trần Thị Lệ T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Thành T2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.

Chị Trần Thị Lệ T1 phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Thành T2 được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản:

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 - Về nợ chung: Ghi nhận chị Trần Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Thành T2 không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Trần Thị Lệ T1 và anh Nguyễn Thành T2 vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Lệ T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai T1 tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014967 ngày 25 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh An Giang.

5. Chị Trần Thị Lệ T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thành T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:66/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về