Bản án 66/2019/HNGĐ-ST ngày 25/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 66/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 358/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Ph; sinh năm 1970; thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Võ Phạm Minh Tr, sinh năm 1973; thường trú: Số B, Tổ 13, Khu phố B, phường B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 4 năm 2019 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Trần Văn Ph trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Tr có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tổ chức đám cưới, chung sống từ năm 1996, đến ngày 28/5/2001 anh, chị đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng với gia đình nhà dì của chị Tr tại khu phố B, phường B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2001, vợ chồng sinh con thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng khó khăn về kinh tế, chị Tr không chung thủy trong cuộc sống vợ chồng nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Gia đình 2 bên biết chuyện có khuyên vợ chồng nhưng chị Tr tuyên bố không còn tình cảm với anh và đe dọa nếu còn chung sống thì chị Tr sẽ tự tử để yêu cầu anh ra khỏi nhà. Sau nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng không có kết quả, năm 2004 anh chuyển về ở chung với bố mẹ anh ở huyện Dầu Tiếng. Khi chuyển về ở với bố mẹ anh vẫn xuống thăm con, chăm sóc con nhằm hàn gắn tình cảm nhưng không được. Năm 2005, anh đưa con về ở cùng với anh, từ đó cho đến khi anh khởi kiện ly hôn chị Tr không lên thăm con lần nào và cũng không cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh và chị Tr sống ly thân từ năm 2005 đến nay. Anh xác định tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với chị Tr.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Hữu Ph, sinh ngày 29/4/2001. Hiện nay cháu Ph đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn chị Võ Phạm Minh Tr: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ vào các ngày 21/5/2019 và 12/6/2019; tham gia phiên tòa vào các ngày 03/7/2019 và ngày 25/7/2019 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của anh Ph và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh Ph và chị Tr do Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tiến hành ngày 02/5/2019, Hội Liên hiệp phụ nữ cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa anh Trần Văn Ph với chị Võ Phạm Minh Tr, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh, chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được công bô tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ đối với bị đơn chị Võ Phạm Minh Tr tham gia phiên tòa vào các ngày 03/7/2019 và ngày 25/7/2019 nhưng chị Tr vắng mặt không có lý do, anh Trần Văn Ph có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 12/6/2019. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh Ph và chị Tr.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Ph và chị Võ Phạm Minh Tr là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 38, ngày 28/5/2001 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập chị Tr đến cung cấp bản tự khai, trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Ph để Tòa án tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Tr vắng mặt không có lý do. Anh Ph từ chối tham gia hòa giải vì xác định không còn tình cảm với chị Tr.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Quá trình tố tụng anh Ph cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do khó khăn về kinh tế, chị Tr không chung thủy trong tình cảm vợ chồng. Anh Ph và gia đình hai bên đã khuyên nhủ, bản thân anh Ph đã cố gắng bỏ qua những mâu thuẫn để vợ chồng hàn gắn tình cảm thể hiện ở chỗ mặc dù anh về chung sống với bố, mẹ ở Dầu Tiếng nhưng vẫn chạy về Dĩ An thăm con hàng tuần hoặc về chăm sóc con mỗi lần con bị ốm nhằm hàn gắn tình cảm, nhưng sự cố gắng của anh Ph không có kết quả vì chị Tr không có thiện chí hằn gắn lại tình cảm gia đình. Lời trình bày của anh Ph cũng phù hợp với việc chị Tr bỏ mặc, không quan tâm đến tình cảm gia đình, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình là chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ, hàn gắn quan hệ hôn nhân. Bản thân anh Ph cũng xác nhận tình cảm vợ chồng cũng không còn vì anh, chị đã có thời gian ly thân quá lâu và trong thời gian ly thân chị Tr cũng không quan tâm đến cuộc sống của anh Ph, không hỏi han hay cùng chăm sóc con chung với anh Ph. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa anh Ph và chị Tr đã thực sự không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì cả hai bên đều không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh Ph là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Vợ chồng anh Ph, chị Tr có 01 con chung tên Trần Hữu Ph, sinh ngày 29/4/2001. Tại thời điểm xét xử cháu Ph đã đủ 18 tuổi, anh Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sư không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn Ph phải chịu án phí ly hôn theo quy định cua pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Ph được ly hôn với chị Võ Phạm Minh Tr (giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/5/2001).

2. Về con chung: Anh Trần Văn Ph và chị Võ Phạm Minh Tr có 01 con chung tên Trần Hữu Ph, sinh ngày 29/4/2001 đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn Ph phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền  án phí đã nộp theo biên lai thu số 0028421 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2019/HNGĐ-ST ngày 25/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:66/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về