Bản án 66/2019/HSPT ngày 17/05/2019 về tội chống người thi hành công vụ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 66/2019/HSPT NGÀY 17/05/2019 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 17/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2019/HSST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1978; Nơi thường trú: thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Hoàng Văn L (đã chết) và con bà Vi Thị L (đã chết); Có vợ: Nông Thị M và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 24/9/2018 đến ngày đến ngày 04/10/2018, hiện đang tại ngoại (vắng mặt).

Trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện quyết định số 228/QĐ-CAT-PC67 ngày 12/8/2016 của Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang về việc phân công trách nhiệm, phân cấp tuyến, địa bàn tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; Kế hoạch số 101/KH-CAT-PC67 ngày 12/5/2017 của Công an tỉnh Bắc Giang, Kế hoạch số 558/KH-PC08 ngày 28/8/2018 của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bắc Giang, Kế hoạch số 40/KH-CALNg ngày 12/4/2018 của Công an huyện Lục Ngạn về tổ chức công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến quốc lộ; Kế hoạch công tác tuần từ ngày 17/9/2018 đến ngày 23/9/2018 của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn. Ngày 23/9/2018 tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn gồm các đồng chí: Đồng chí Lưu Xuân T làm tổ trưởng, nhiệm vụ chỉ huy tổ Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của tổ; đồng chí Phạm Bá K làm tổ viên, nhiệm vụ điều khiển xe ô tô biển số 98A - 1168, ghi sổ nhật ký, lập các biểu mẫu vi phạm; đồng chí Trần Xuân Q làm tổ viên, nhiệm vụ quản lý và bàn giao các biểu mẫu, cảnh giới, sử dụng điện thoại cá nhân ghi lại hình ảnh; đồng chí Vi Văn K1 làm tổ viên, nhiệm vụ dừng phương tiện vi phạm, kiểm tra các loại giấy tờ; đồng chí Trần Văn L làm tổ viên, nhiệm vụ Cảnh giới, điều khiển xe mô tô. Ngoài ra các đồng chí trong tổ làm nhiệm vụ khác khi được phân công.

Ngày 23/9/2018 tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn tiến hành tuần tra, xử lý vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên tuyến quốc lộ 279. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày khi tổ công tác đang thực hiện nhiệm vụ tại khu vực thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển số 98E1 - 564.59 do Bùi Tiến D - sinh năm 2002, trú tại thôn K, xã T, huyện L điều khiển lưu thông trên quốc lộ 279 không đội mũ bảo hiểm, tổ công tác tiến hành dừng xe kiểm tra giấy tờ không có giấy phép lái xe theo quy định nên đã lập biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ phương tiện để xử lý theo quy định. Sau khi bị lập biên bản và tạm giữ phương tiện, D về nhà nói với bố đẻ là ông Bùi Văn T1 về việc bị Cảnh sát giao thông giữ xe, lúc này Bùi Văn T1 đang ngồi ăn cơm uống rượu cùng với Hoàng Văn Đ, Hoàng Văn T2, ông Thân Hải Đ1, ông Trần Đức C. Nghe tin D bị giữ xe mô tô nên T1 và Đ đi ra chỗ xe ô tô tải biển số 98A-1168 của lực lượng Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn đang tiến hành đưa xe mô tô biển số 98E1 - 564.59 lên thùng xe. Khi đến nơi T1 gặp đồng chí Lưu Xuân T xin được trả lại xe, nhưng đồng chí T đã giải thích cho T1 là không xin lại được mà phải chở xe về Công an huyện Lục Ngạn giải quyết theo quy định. Do không đồng ý với việc xử lý vi phạm hành chính của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn nên T1 đã có hành vi chửi bới, lao vào dùng tay ru đẩy, giằng co đánh đồng chí T. Thấy vậy đồng chí Q sử dụng điện thoại di động cá nhân để quay lại sự việc thì Đ lao vào ngăn cản, giằng điện thoại làm điện thoại rơi xuống đất, tiếp đó Đ giằng co, xô sát ru đẩy đối với đồng chí Q cả hai ngã xuống đường. Lúc này đồng chí T thấy hành vi của các đối tượng nguy hiểm nên đã rút súng K54 bắn chỉ thiên 2 phát đồng thời hô tất cả dừng lại. Nghe tiếng súng nổ và được mọi người can ngăn nên T1 và Đ bỏ về nhà. Sau đó T1 lấy 2 chai bia nhãn hiệu Habada Beer màu xanh đi ra cửa nhà, được mọi người can ngăn T1 vứt 2 chai bia xuống đường bị vỡ rồi vào nhà. Hậu quả đồng chí Lưu Xuân T bị thương và phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện L. Ngay sau khi xảy ra vụ việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn tổ chức khám nghiệm hiện trường, quá trình khám nghiệm thu giữ 2 vỏ đạn súng K54, 02 chiếc dép tông màu vàng. Cùng ngày bà Giáp Thị H vợ của Bùi Văn T1 tự giao nộp 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu xanh bị vỡ phần đáy chai, trên trai có chữ Habada beer thể tích 65ml.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 80/CNTC ngày 24/9/2018 của Bệnh viện đa khoa khu vực huyện L xác định đồng chí Lưu Xuân T vào viện lúc 16 giờ 49 phút ngày 23/9/2018, ra viện lúc 18 giờ 00 phút cùng ngày, tình trạng thương tích lúc vào viện: 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay phải vết sước da 5 cm; mặt sau ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải nốt xây sát da. Ngày 11/10/2018 cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn ra quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của đồng chí Lưu Xuân T. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8507/18/TgT ngày 17/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 5%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2019/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 330; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Chống người thi hành công vụ” Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 24/9/2018 đến ngày 04/10/2018.

Ngoài ra bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.

Ngày 28/01/2019, bị cáo Hoàng Văn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Đ lúc đầu giờ có mặt, sau đó vắng mặt không rõ lý do. Bị cáo không có đơn rút kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Đ được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Đ vắng mặt không rõ lý do, bị cáo chỉ kháng cáo xin hưởng án treo, không bị kháng cáo kháng nghị theo hướng tăng nặng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo là đúng với hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 12 năm 2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:

+ Về tội danh: Do không chấp hành việc xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an huyện Lục Ngạn nên Hoàng Văn Đ đã cùng với Bùi Văn T1 đã có hành vi xô sát, ru đẩy đối với đồng chí Lưu Xuân T và Trần Xuân Q, ngăn cản các đồng chí Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động- Công an huyện Lục Ngạn thực hiện nhiệm vụ, hậu quả gây thương tích cho đồng chí Lưu Xuân T 5% sức khỏe.

Bị cáo Hoàng Văn Đ là nghười có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm hại hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo. Đáng chú ý, tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong thời gian qua còn diễn biến phức tạp, xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng do sự thiếu ý thức và không chấp hành đúng luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông, do vậy việc bị cáo chống đối, ngăn cản các đồng chí cảnh sát làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội "Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2018 đến ngày 04/10/2018.

[2] Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


42
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về