Bản án 66/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 66/2019/HS-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2019/QĐXXST-HS ngày 04/4/2019 đối với bị cáo:

Hà Văn D, sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số 32/53/41/23, đường H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T (chết) và bà Trần Thị M; có vợ và 01người con, sinh năm 2016; tiền án: 02: Ngày 21/11/2012, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 09 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/4/2015) và ngày 29/01/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 07/7/2017, cả 02 bản án đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ ngày 05-11-2018 (tính tại thời điểm bị bắt quả tang lúc 20 giờ 15 phút ngày 05/11/2018), tạm giam ngày 12/11/2018 “có mặt”.

Bị hại: Chị Tạ Thị Hồng L, sinh năm 1988. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 9, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi ở: Nhà số 9Y, đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 05/11/2018, Hà Văn D điều khiển xe môtô kiểu biển số 52H7-8791 đến trước quán ốc L, số 350 đường C, Khu phố 2, phường T1, quận B thì phát hiện chị Tạ Thị Hồng L đang ngồi ăn uống cùng nhóm bạn, chị L có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 Plus trên tay nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. Ngay sau đó, D cho xe quay đầu lại chạy áp sát vào người chị L và dùng tay phải giật lấy được chiếc điện thoại của chị L rồi tăng ga xe chạy vào hẻm số 350, đường C. Lúc này, chị L liền truy hô lên và cùng nhóm bạn chạy đuổi theo, do D thấy có nhiều người đang ngồi phía trước nên sợ và cho xe quay lại thì bị chị L chặn đầu xe và đẩy xe D ngã xuống đường, khi đó bắt giữ được D cùng vật chứng giao cho Công an phường Bình Trị Đông A xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền và tại đây D khai nhận toàn bộ hành vi như vừa đã nêu.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Văn D khai nhận, do cần có tiền tiêu xài nên đã sử dụng xe môtô biển số 52H7 - 8791 làm phương tiện thực hiện hành vi giật lấy tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 Plus của chị Tạ Thị Hồng L rồi tẩu thoát thì bị bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về giá trị tài sản đã chiếm đoạt và giải quyết vật chứng.

Bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hà Văn D ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Hà Văn D đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 Plus của chị Tạ Thị Hồng L một cách công khai rồi tẩu thoát và tội phạm đã hoàn thành, tài sản có giá trị là 4.000.000 đồng; bị cáo đã “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” thực hiện hành vi này và đồng thời đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên sẽ được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù về “Tội cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không ý kiến; riêng phần vật chứng là chiếc điện thoại di động ITEL thì đề nghị giao trả lại cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng cũng không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 05/11/2018, bị cáo Hà Văn D đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 Plus của chị Tạ Thị Hồng L tại trước nhà số 350 đường C, Khu phố 2, phường T1, quận B một cách công khai rồi tẩu thoát. Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì chiếc điện thoại này có giá trị là 4.000.000 đồng. Xong, do bị cáo đã sử dụng chiếc xe môtô biển số 52H7-8791 làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và đồng thời bị cáo đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà nay lại phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” . Như vậy, bị cáo đã phạm “Tội cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, giá trị tài sản chiếm đoạt… nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và một phần lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng mức án đề nghị là chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra bởi do, bị cáo đã từng 02 lần bị kết án cùng loại tội phạm này mà vẫn còn vi phạm nên cần phải áp dụng mức án cao hơn thì mới đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật, đã lợi dụng sự sơ hở của người khác chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề tự do và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tuy tại Tòa hôm nay, bị hại chị Tạ Thị Hồng L đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng theo các tài liệu có trong hồ sơ thì, chị L đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 Plus của chị Tạ Thị Hồng L, Công an Phường Bình Trị Đông A đã thu hồi và giao trả lại cho chị L và chiếc xe môtô biển số 52H7-8791 là của mẹ bị cáo tên Trần Thị M, Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho bà M nên không xét. Riêng 01 chiếc điện thoại di động ITEL (đã qua sử dụng) của bị cáo, không liên quan gì đến vụ án nên cần giao trả lại cho bị cáo.

[6] Bị cáo Hà Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm “Tội cướp giật tài sản”.

- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Hà Văn D 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05-11-2018.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Giao trả cho bị cáo Hà Văn D 01 chiếc điện thoại di động ITEL (đã qua sử dụng).

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số NK19/126TAM ngày 21/3/2019)

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Hà Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hà Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Tạ Thị Hồng L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:66/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Tân - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về