Bản án 68/2019/HSPT ngày 22/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 68/2019/HSPT NGÀY 22/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2019/HSPT ngày 02/01/2019 đối với bị cáo Phan Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 382/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo kháng cáo:

Phan Anh T, sinh năm 1977; HKTT: Số 246 Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Hiện ở: 138 ngõ Trại Cá, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phan Thiếu T1; Con bà: Nguyễn Thị P; Vợ: Phạm Kim O; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/10/1994: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 tháng; Ngày 14/11/2007: Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách 40 tháng. Danh bản, chỉ bản số 261 do Công an quận Đống Đa lập ngày 17/3/2016; Bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 16/3/2016 đến ngày 06/9/2016; Bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh từ ngày 06/9/2016 đến ngày 19/7/2018; Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện của bị cáo: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1952; HKTT: Số 246 Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Hiện ở: 138 ngõ Trại Cá, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Quang Tiến - Luật sư Văn phòng Luật sư Phạm Sơn và cộng sự - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Đống Đa thì vụ án có nội dung như sau:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HSST ngày 22/01/2019 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:

Khoảng 21h45' ngày 16/3/2016, tại phòng 208C8 Tập thể Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; tổ công tác công an phường Kim Liên kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Phan Anh T gồm:

- 01 cân điện tử màu bạc hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 3x5cm; 01 gói nilong kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng dạng cục; 6.000.000đồng thu giữ tại ngăn tủ nhựa trên cùng bên trái ở góc phòng.

- 01 gói nilong kích thước 4x4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng dạng cục thu giữ tại ngăn tủ nhựa trên cùng bên phải ở góc phòng.

- 01 bình cóong thủy tinh thu giữ trên bàn uống nước.

- 01 hộp thủy tinh kích thước 2x2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại Oppo màu đen thu giữ trên mặt đệm ở giữa phòng;

Tại Bản kết luận giám định số 2255/KLGĐ-PC54 ngày 20/4/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong kích thước 4x4cm có trọng lượng 4,980gam là Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong kích thước 2x2cm có trọng lượng 1,050gam là Ketamine.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 hộp thủy tinh có trọng lượng 0,550gam, là Methamphetamine;

- 01 bộ tẩu tự tạo và 01 cân điện tử màu bạc đều có dính Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, giai đoạn đầu Phan Anh T không thừa nhận hành vi của mình; từ chối làm việc và không ký nhận vào các biên bản. T và gia đình T cung cấp Bệnh án rối loạn tâm thần, được điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.

Ngày 09/6/2016 cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Đống Đa trưng cầu giám định tình trạng bệnh tâm thần đối với Phan Anh T tại Viện pháp y tâm thần Trung Ương. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 255 ngày 16/8/2016 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương kết luận:

"Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Phan Anh T có biểu hiện rối loạn loạn thần do sử dụng nhiều loại ma túy với các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi bệnh có mã số F19.54.

Trước, trong khi phạm tội bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn nặng, bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi".

Ngày 06/9/2016, Phan Anh T bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bện tại Viện pháp y tâm thần Trung Ương.

Ngày 06/6/2018 Viện pháp y tâm thần Trung Ương có thông báo tình trạng sức khoẻ của tâm thần của Phan Anh T đã khỏi bệnh, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Ngày 11/6/2018 cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Đống Đa trưng cầu giám định tình trạng bệnh tâm thần đối với Phan Anh T tại Viện pháp y tâm thần

Trung Ương. Tại bản kết luận giám định sức khoẻ tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh số 37 ngày 06/7/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương - Bộ Y tế kết luận: Hiện tại tình trạng bệnh tâm thần của Phan Anh T ở giai đoạn khỏi bệnh. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại cơ quan điều tra T khai nhận: ngày 16/3/2016 T mua ma tuý về để sử dụng với giá 3.000.000đồng; sau khi mua T đã sử dụng một phần, phần còn lại T cất giấu trong tủ quần áo tại phòng trọ thì bị cơ quan công an thu giữ. Do thời gian đã lâu, T không nhớ mua của ai và tại đâu. Cân điện tử bị công an thu giữ tại phòng là của một người bạn đem đến và để lại tại phòng trọ của T. Số tiền 6.000.000đ là tiền chi tiêu cá nhân của T.

Đối tượng bán ma tuý cho T do T không nhớ được tên tuổi, đặc điểm nhận dạng, địa chỉ nên cơ quan công an không làm rõ để xử lý được.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Ngày 16/3/2016 T đã mua 3.000.000đ ma tuý về để sử dụng; sau khi mua T đã sử dụng một phần, phần còn lại T cất giấu trong tủ quần áo tại phòng trọ thì bị công an thu giữ. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 382/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194, Điều 44; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; của Bộ luật hình sự 1999; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Phan Anh T 30 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ 16/3/2016 đến ngày 06/9/2016 và thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh từ ngày 06/9/2016 đến ngày 19/7/2018.

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 28/11/2018, bị cáo Phan Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:

Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý„ theo khoản 1, Điều 194- Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng Khoản 1 Điều 194, Điều 44; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; của Bộ luật hình sự 1999.

Xử phạt: Phan Anh T 30 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ 16/3/2016 đến ngày 06/9/2016 và thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh từ ngày 06/9/2016 đến ngày 19/7/2018.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có tình tiết mà chưa được Toà án cấp sơ thẩm xem xét đó là: bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hình thức: Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi cũng như quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều là hợp pháp.

Kháng cáo của bị cáo Phan Anh T là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện các hành vi như án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 21 ngày 16/3/2016 tại phòng 208, C8 tập thể Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội; Phan Anh T có hành vi cất giấu trái phép 5,530 gam Methamphetamine và 1,050gam Ketamine mục đích để sử dụng thì bị công an phường Kim Liên kiểm tra bắt quả tang nên việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 194- Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như:

Nhân thân bị cáo có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và Đánh bạc đã được xóa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã có thời gian bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát) từ 06/9/2016 đến 19/7/2018, xử phạt bị cáo mức án 30 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo vẫn thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, hơn nữa thực tế cả thời gian tạm giữ, tạm giam và thời gian bắt buộc chữa bệnh của bị cáo đã là 28 tháng 06 ngày nên có thể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt, xử phạt bị cáo mức án bằng thời gian đã tạm giữ, tạm giam và bắt buộc chữa bệnh cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung. Toà án cấp sơ thẩm có thiếu sót khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là áp dụng thiếu tình tiết người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cần rút kinh nghiệm.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1- Áp dụng điểm b, khoản 1 điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Anh T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 382/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Phan Anh T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194- Bộ luật hình sự 1999; điểm q, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Phan Anh T 28 tháng 06 ngày tù được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 16/3/2016 đến ngày 06/9/2016 và thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh từ ngày 06/9/2016 đến ngày 19/7/2018. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HSPT ngày 22/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:68/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về