Bản án 689/2017/HSPT ngày 18/10/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 689/2017/HSPT NGÀY 18/10/2017 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 392/HSPT ngày 23 tháng 5 năm 2016 đối với bị cáo Quàng Thị Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Quàng Thị Đ; sinh ngày 02/9/1968; nơi ĐKHKTT: Đội 14, xã Thanh L, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; con ông Quàng Văn Ch và bà Quàng Thị M; có chồng là Quàng Văn D và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Bản án số 510/HSPT ngày 02/4/2001 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2015; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Quàng Thị Đ: Luật sư Lê Trường S - Công ty luật hợp danh Thủy V thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lào Cai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 19/01/2015, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Tòng Chú 3, xã Cốc S1, huyện Bát X, tỉnh Lào Cai phát hiện hai đối tượng mang theo 01 bao tải dứa và 01 hộp bìa cát tông có biểu hiện nghi vấn, khi Công an đến một người bỏ chạy, tổ công tác yêu cầu đối tượng còn lại mang hành lý đến trụ sở UBND xã Cốc S1 để kiểm tra, tại đây, đối tượng khai tên là Quàng Thị Đ. Qua kiểm tra trong bao tải dứa đựng miến có 02 bánh gói nhiều lớp nilon là chất bột khô, màu trắng; trong hộp bìa cát tông đựng thịt trâu khô có 01 bánh gói nhiều lớp nilon là chất bột khô màu trắng, Đ khai là hêrôin. Vật chứng thu giữ gồm 03 bánh ma túy, 01 điện thoại di động, chứng minh thư nhân dân mang tên Quàng Thị Đ và 1.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 22/GĐMT ngày 03/6/2015 và Kết luận giám định bổ sung số 253/GĐMT ngày 27/8/2015 kết luận vật chứng 03 bánh chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Quàng Thị Đ gửi giám định có tổng trọng lượng 1.043,04gam, trích 10,25gam để giám định đều có thành phần hêrôin và hàm lượng mỗi gói như sau: Bánh số 1: 65,33%, bánh số 2: 69,63%, bánh số 3: 77,48%.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 13 giờ ngày 18/01/2015, Quàng Thị Đ đi xe khách từ Điện Biên đến thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Khoảng 15 giờ cùng ngày khi đến thành phố Lai Châu, Đ đi xe ôm đến nhà O là người quen ở xã Bình L1, huyện Tam Đ1, tỉnh Lai Châu nhưng O không ở nhà nên Đ ra quán ăn cơm, qua trò chuyện Đ quen một người phụ nữ khoảng 45 tuổi, người này lấy số điện thoại di động của Đ. Đến 21 giờ cùng ngày, người phụ nữ điện bảo thuê Đ mang bao tải đựng miến và hộp cat tông đựng thịt trâu khô đã để sẵn trên xe khách giường nằm chạy tuyến Điện Biên - Lào Cai với giá 06 triệu đồng, Đ đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 19/01/2015, Đ ra đường thuộc xã Bình L1, huyện Tam Đ1, tỉnh Lai Châu lên xe khách có bao tải miến và hộp thịt trâu khô đi đến thôn Tòng Chú 3, xã Cốc S1, huyện Bát X, tỉnh Lào Cai, Đ mang tải miến và hộp thịt trâu cùng người phụ nữ xuống xe thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai phát hiện bắt giữ quả tang Quàng Thị Đ cùng tang vật là 03 bánh hêrôin, người phụ nữ đi cùng trốn thoát.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã quyết định áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Quàng Thị Đ tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2015.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/4/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai có Quyết định kháng nghị số 08/KN-PT đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo Quàng Thị Đ.

Ngày 27/4/2016, bị cáo Quàng Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án đồng thời phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ, không oan. Trong quá trình điều tra xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm, tại phiên tòa phúc thẩm không thành khẩn khai báo, số lượng ma túy bị cáo vận chuyển là rất lớn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, xử tăng hình phạt đối với bị cáo Quàng Thị Đ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và người làm chứng, các tài liệu chứng cứ có nhiều mâu thuẫn, về tố tụng có nhiều thiếu sót, chưa đủ căn cứ kết tội bị cáo, đề nghị căn cứ vào quy định của pháp luật, hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội, trả tự do cho bị cáo.

Đối đáp với luật sư bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã trình bày ở phần tranh luận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Quàng Thị Đ không thừa nhận hành vi phạm tội và cho rằng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết và xét xử bị cáo là không đúng. Tuy nhiên qua nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu như: Biên bản phạm tội quả tang, bản tự khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận bị cáo có hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” gồm 03 bánh hêrôin với trọng lượng hêrôin tinh chát là 738,62 gam theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã quy kết là hoàn toàn có căn cứ, đúng qui định của pháp luật, không oan, do đó không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo mua bán chất ma tuy với số lượng rất lớn, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an, cần phải xử lý nghiêm khắc, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, bản án sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, thấy bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, số lượng ma túy trên 700gam tinh chất, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thể hiện sự coi thường pháp luật, do đó xét thấy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai cũng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, xử tăng hình phạt đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 điều 248; khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quàng Thị Đ; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 15/04/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai như sau:

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Thị Đ tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Bị cáo Quàng Thị Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, bị cáo Quàng Thị Đ có quyền gửi đơn lên Chủ tịch nước Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 689/2017/HSPT ngày 18/10/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

      Số hiệu:689/2017/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:18/10/2017
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về