Bản án 69/2017/HS-ST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 69/2017/HS-ST NGÀY 17/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2017/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2017/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980; sinh trú quán: Xóm M, xã Th, huyện KB, tỉnh HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Đinh Thị Ch; có vợ Lương Thị Nh và 3 con: Lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ ngày 24/9/2017 đến ngày 27/9/2017 chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1986; trú tại: Xóm M, xã Th, huyện KB, tỉnh HN. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 ngày 24 tháng 9 năm 2017, Công an huyện Kim Bảng tuần tra trên đường LC, thuộc xóm ML, xã Th S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, thấy Nguyễn Văn Th đang điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-8186 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn Th một gói nilon màu trắng, bên trong là lớp giấy kẻ ly có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Th khai nhận đó là chất ma túy, Th cất giấu để sử dụng. Công an huyện Kim Bảng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng ký hiệu QT01; ngoài ra còn thu giữ của Th số tiền 80.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia và 01 xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-8186. Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn Th, không phát hiện, thu giữ được gì.

Tại bản kết luận giám định số 181/PC54- MT ngày 27/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, trọng lượng là 0,196gam.

Tại bản cáo trạng số 71/KSĐT-MT ngày 24/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng… Người bào chữa cho bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa bản thân, làm lại cuộc đời. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; lời nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 ngày 24 tháng 9 năm 2017, tại xóm ML, xã Th S, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, tổ tuần tra Công an huyện Kim Bảng bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn Th tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ là chất ma túy, loại Heroine, có trọng lượng 0,196gam với mục đích để sử dụng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố để xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của bản thân, bị cáo đã tự đi mua ma túy rồi tàng trữ trái phép để sử dụng cho bản thân, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm gieo rắc cái chết trắng trong cộng đồng dân cư; thể hiện sự liều lĩnh, táo tợn, xem thường kỷ cương pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, nên cần phải xét xử thật nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, trọng lượng ma túy ít; ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ Nguyễn Văn S, ông nội Nguyễn Văn T, ông ngoại Đinh Văn T là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu. Vì vậy khi lượng hình sẽ xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo đề nghị của người bào chữa, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, cũng là thể hiện chính sách nhân đạo, sự độ lượng khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình với số tiền 300.000đồng vào tối ngày 24/9/2017 để sử dụng, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đã bán ma túy, nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xác minh, làm rõ được. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với người bán ma túy cho bị cáo.

[2] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm,bản thân không nghề nghiệp, không có tài sản gì đáng giá, hiện đang ở nhờ cùng gia đình, việc tàng trữ trái phép chất ma túy không ngoài mục đích để sử dụng cho bản thân, nên thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 181/PC54- MT, ghi mẫu vật hoàn trả ký hiệu QT01, chứa chất ma túy, là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành, cần tuyên tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 chiếc điện thoại di động cũ, nhãn hiệu Nokia, màu đen và số tiền 80.000đ thu giữ của bị cáo được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm, cần tuyên trả lại cho bị cáo; chiếc xe môtô, nhãn hiệu KOZATA ZR màu đỏ, biển kiểm soát 51L5-8186, được xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Th (bạn bị cáo), nhưng anh Trần Văn Th không biết bị cáo mượn xe để sử dụng vào việc phạm tội, nên cơ quan điều tra đã trả lại anh Trần Văn Th chiếc xe môtô trên là phù hợp.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tạiĐiều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 231, 233 và 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24 tháng 9 năm 2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy số 0  phong bì niêm phong nguyên vẹn số 181/PC54-MT, ghi mẫu vật hoàn trả ký hiệu QT01; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động cũ, nhãn hiệu Nokia, màu đen và số tiền 80.000đ (Tình trạng, số lượng, loại vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 30/10/2017 và theo ủy nhiệm chi số 32 ngày 25/10/2017).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


57
  • Tên bản án:
    Bản án 69/2017/HS-ST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    69/2017/HS-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    17/11/2017
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2017/HS-ST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:69/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về