Bản án 70/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 70/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số71/2017/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1998, tại Tiền Giang;

Tên gọi khác: Chí Phèo;

Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; Số CMND: 312418649;

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh;

Con ông Nguyễn Tấn C và bà Nguyễn Thị T;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền sự: 01 lần, ngày 08/02/2017, bị Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 2.000.000 đồng vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản của người khác;

Tiền án: Không;

Tạm giữ: Ngày 24/3/2017;

Bị bắt tạm giam: Ngày 30/3/2017 cho đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Nguyễn Bảo Nguyệt Q, sinh năm 1988 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

2. Nguyễn Thị Bé M, sinh năm 1967 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Quốc T, sinh năm 1998 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

2 .Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1998 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 16/3/2017, Nguyễn Văn C đi bộ từ nhà của mình đến nhà chị Nguyễn Bảo Nguyệt Q tại ấp A, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phát hiện nhà chị Q không có ai trông coi, Nguyễn Văn C đi vào bên hông nhà thấy cửa sổ nhà để hở và phát hiện có một chiếc túi xách màu đen đặt bên trong cạnh cửa sổ nên Nguyễn Văn C nảy sinh ý định chiếm đoạt. Nguyễn Văn C dùng một chiếc cưa sắt tìm được gần đó để cưa song cửa sổ bằng gỗ và dùng hai tay bẻ gãy song cửa sổ chiếm đoạt được một chiếc laptop nhãn hiệu Sony Vaio để bên trong túi xách màu đen rồi đem giấu. Khoảng 04 ngày sau, Nguyễn Văn C đem chiếc laptop nhãn hiệu Sony Vaio đến gặp Phạm Quốc T để đổi lấy một xe mô tô hai bánh màu cam biển số 62 – 168CP của T để làm phương tiện đi lại. Chị Q sau khi phát hiện mất tài sản báo sự việc với Cơ quan Công an nên hành vi chiếm đoạt của Nguyễn Văn C bị phát hiện. Ngoài ra, Nguyễn Văn C còn khai nhận: Khoảng 05 giờ ngày 11/02/2017, Nguyễn Văn C đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thị Bé M tại ấp H, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang thì thấy cửa nhà của bà M không khóa, bà M đang nằm ngủ trong nhà. Nguyễn Văn C phát hiện dưới gối nằm nơi bà M đang nằm ngủ có một chiếc điện thoại di động hiệu Mobile nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Nguyễn Văn C đến chỗ bà M đang nằm ngủ chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nêu trên và dây sạc điện thoại màu đen đang cắm trên ổ điện. Nguyễn Văn C đem điện thoại chiếm đoạt bán cho Nguyễn Phát Đ giá 80.000 đồng để tiêu xài, còn dây sạc điện thoại Nguyễn Văn C đốt tại bãi rác.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) laptop màu đen hiệu Sony Vaio, modelPCG – 71318L; 01 (một) chiếc cưa có lưỡi bằng sắt đã bị gỉ sét có chiều dài40,5cm bao gồm phần cán và phần đuôi có cán bằng gỗ, trên cán cưa có vết sơnmàu xanh, ở giữa cán được khoét 01 lỗ tròn; 01 (một) xe mô tô hai bánh màu cam,biển số 62 – 168CP, số máy 57-717IE, số khung 050 – V350477 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobile.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 40, 59/KL-HĐĐG ngày04/3/2017, ngày 27/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Thành, tỉnhTiền Giang, xác định: 01 (Một) laptop màu đen hiệu Sony Vaio, model PCG –71318L, trị giá 4.500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobile, mặt trước và mặt sau màu trắng, các nút số bên trên bàn phím đã bị mờ, vỏ sau bị rời ra khỏithân máy, số IMEI: 842180001626706, không có sim, trị giá 50.000 đồng.

Tại phiên tòa, Chị Nguyễn Bảo Nguyệt Q, anh Nguyễn Phát Đ và anh Phạm Quốc T trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 16/3/2017, tại nhà của chị Q tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Chị Q phát hiện bị mất cái cặp màu đen, bên trong đựng máy laptop hiệu Sony Vaio và 01 đồng hồ hiệu Rado bằng đá mặt hình elip kiểu nữ. Chị kiểm tra phòng, thấy song cửa sổ bằng gỗ bị bẻ gãy, dưới đất cạnh cửa sổ thì có 01 chiếc cưa lưỡi bằng sắt. Tài sản bị chiếm đoạt, chị đã nhận lại không yêu cầu gì khác. Đối với cái đồng hồ hiệu Rado bằng đá mặt hình elip kiểu nữ không thu hồi được và bị cáo không thừa nhận có chiếm đoạt nên chị không yêu cầu xử lý và bồi thường. Còn cái cưa lưỡi bằng sắt bị cáo nêu lấy của nhà chị nhưng chị không yêu cầu nhận lại. Điện thoại di động hiệu Mobile anh Đ mua của chí Phèo tức bị cáo Nguyễn Văn C giá 80.000 đồng. Khi anh Đ sử dụng điện thoại này, bà M nhìn thấy nên hỏi thì anh Đ nói mua của Chí Phèo, anh Đ không biết điện thoại anh mua của Chí Phèo là do chiếm đoạt mà có, anh đã nộp lại điện thoại, không yêu cầu bị cáo trả lại tiền anh mua điện thoại. Đối với chiếc laptop màu đen hiệu Sony Vaio, anh T trình bày: Khi anh gặp Chí Phèo tức là bị cáo thì nói muốn bán 01 xe mô tô cup 50 màu cam không có biển số và đưa Chí Phèo chạy thử. Sau đó, Chí Phèo đề nghị anh đổi máy tính hiệu Sony Vaio với xe mô tô cup 50 màu cam của anh, anh T đồng ý và nhận chiếc laptop. Khi anh T nhận chiếc laptop không hỏi laptop đâu Chí Phèo có và Chí Phèo cũng không nói cho anh biết laptop do chiếm đoạt, chiếc laptop anh đã nộp cho Công an. Đối với xe cup 50 màu cam anh mua xe cũ tại bãi phế liệu gần ngã tư Đồng Tâm thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang để chở đồ, khi mua xe không có biển số, không có giấy tờ đã đưa cho bị cáo sử dụng để đổi lấy chiếc laptop hiệu Sony Vaio, anhTín không yêu cầu nhận lại.

Bà Nguyễn Thị Bé Một vắng mặt tại phiên tòa. Nhưng theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Mobile có gắn thẻ sim nhưng không rõ số điện thoại thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Bé Một, bà phát hiện bị mất vào ngày 11/02/2017 để dưới gối nằm cùng với dây sạc màu đen cấm ở ổ điện tại nhà bà thuộc ấp H, xã B, huyện Châu Thành, Tiền Giang. Sau đó, bà nhìn thấy Nguyễn Phát Đ sử dụng điện thoại giống điện thoại bà bị mất nên hỏi và biết được do Chí Phèo bán nên bà chắc là Chí Phèo chiếm đoạt của bà. Hiện bà M đã nhận lại điện thoại bị mất, còn dây sạc không thu hồi được bà không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận về hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 70/KSĐT ngày 19 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Tại Phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về dân sự, ghi nhận các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu gì. Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một)chiếc cưa có lưỡi bằng sắt là công cụ thực hiện tội phạm; Sung quỹ nhà nước 01(một) xe mô tô hai bánh màu cam, biển số 62 – 168CP, số máy 57-717IE, số khung050 – V350477 do anh T mua xe cũ của bãi phế liệu không còn giá trị, không xác định được chủ sở hữu và không có yêu cầu nhận lại xe; Buộc bị cáo nộp thu lợi bất chính với số tiền 80.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Văn C; người bị hại Nguyễn Bảo Nguyệt Q không có ý kiến về ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời, bị cáo, chị Q, anh Phạm Quốc T, anh Nguyễn Phát Đ không có ý kiến về xử lý vật chứng và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự.

Bị cáo đã biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại là sai nên khai báo trung thực, bị cáo xin lỗi chị Q và xin Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án thấp sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vu án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩmtra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, sự thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cở sở kết luận: Trưa ngày 16/03/2017, bị cáo Nguyễn Văn C lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại Nguyễn Bảo Nguyệt Q đã lén lút dùng chiếc cưa lưỡi bằng sắt cưa thanh cửa sổ bằng gỗ bên hông nhà của chị Q tại ấpA, xã B, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang chiếm đoạt tài sản của chị Q 01 (một) laptop màu đen hiệu Sony Vaio. Trước đó, khoảng 05 giờ ngày 11/2/2017 tại ấp H, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang bị cáo Nguyễn Văn C có hành vi lét lút chiếm đoạt một chiếc điện thoại di động hiệu Mobile của bà Nguyễn Thị Bé M. Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì giá trị: 01 (Một) laptop màu đen hiệu Sony Vaio, model PCG – 71318L, trị giá 4.500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobile, mặt trước và mặt sau màu trắng, các nút số bên trên bàn phím đã bị mờ, vỏ sau bị rời ra khỏi thân máy, số IMEI: 842180001626706, không có sim, trị giá50.000 đồng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị báo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn lợi ích cá nhân.

Về nhân thân, Năm 2015 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thànhtỉnh Tiền Giang xét xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 84/2015/HSST ngày 31/8/2015. Thời điểm này, bị cáo bị kết án là người chưa thành niên nên theo quy định tại khoản 1 Điều 77 Bộ luật hình sự 1999 thì thời hạnđể xóa án tích là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này. Nhưng tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự 2015 thì người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, .. được coi là không có án tích. Dovậy cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết 109/2015/QH13 ngày27/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/06/2016 của Quốc Hội và áp dụng khoản 3Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 để có lợi cho bị cáo là không có án tích, có nghĩa được coi là chưa bị kết án nhưng không phải là có nhân thân tốt. Sau khi bị cáo chấp hành án xong không có ý thức sửa sai, ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt bị Công an huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang xử phạt 2.000.000 đồng về theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0042462/QĐ- XPHC ngày 08/02/2017. Đến tháng 02 năm 2017 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị truy tố chứng tỏ bị cáo xem thường quy định của pháp luật, bất chấp hậu quả nên cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hai lần đều cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự: 01 (một) chiếc cưa có lưỡi bằng sắt đã bị gỉ sét có chiều dài 40.5cm bao gồm phần cán và phần đuôi, có cán bằng gỗ, trên cán cưa có vết sơn màu xanh, ở giữa cán được khoét 01 lỗ tròn do bị cáo lấy tại nhà bị hại nhưng bị hại không yêu cầu nhận lại và cũng là công cụ thực hiện tội phạm nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) xe mô tô hai bánh màu cam, biển số 62 – 168CP, số máy 57-717IE, số khung 050 – V350477 do anh T mua xe cũ của bãi phế liệu không có giấy tờ, anh không xác định được chủ sở hữu đã đưa cho bị cáo sử dụng để đổi lấy chiếc laptop hiệu Sony Vaio, anh T không yêu cầu nhận lại cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 (một) laptop màu đen hiệu Sony Vaio, model PCG– 71318L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã trả lại cho chị Nguyễn Bảo Nguyệt Q ngày 10/4/2017 và 01 một chiếc điện thoại di động hiệu Mobile cho bà Nguyễn Thị Bé M ngày 30/4/2017 nên không đặt ra xem xét. Buộc bị cáo nộp số tiền 80.000 đồng do phạm tội mà có sung quỹ Nhà nước.

Về dân sự: Sau khi chị Q, bà M nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu gì và anh Đ cũng không yêu cầu bị cáo trả lại 80.000 đồng đã bỏ ra mua điện thoại nên không đặt ra xem xét.

Đối với Phạm Quốc T, Nguyễn Phát Đ không biết chiếc laptop nhãn hiệu Sony Vaio và điện thoại di động Mobile là do bị cáo Nguyễn Văn C chiếm đoạt mà có nên không bị xử lý hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phân tích tính chất mức độ phạm tội; đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 đến 12 tháng tù.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với qui định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 45; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản1 Điều 48, Điều 33 của Bộ Luật hình sự;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết 109/2015/QH13 ngày27/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/06/2016 của Quốc Hội và áp dụng khoản 3Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24/03/2017.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cưa có lưỡi bằng sắt đã bị gỉ sét có chiều dài 40.5cm bao gồm phần cán và phần đuôi có cán bằng gỗ, trên cán cưa có vết sơn màu xanh, ở giữa cán được khoét 01 lỗ tròn.

- Tịch thu Sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô hai bánh màu cam, biển số62 – 168CP, số máy 57-717IE, số khung 050 – V350477.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/06/2017 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Buộc bị cáo nộp 80.000 (Tám mươi ngàn) đồng sung quỹ Nhà nước.

3.Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, chị Q, anh Đ và anh T có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Đối với bà M vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về