Bản án 70/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 70/2017/HSST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường khu phố D, thị trấn C, huyện Vĩnh Cửu tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 71/2017/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H (Tên gọi khác: Tí), sinh năm 1987, tại Quảng Bình.

Nơi đăng ký HKTT: tổ A, khu phố B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở: Không nơi ở nhất định.

Quốc tịch: Việt Nam;            

Dân tộc: Kinh;              

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: không, Trình độ học vấn: 12/12

Con ông Trần B, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963.

Gia đình bị cáo có 04 anh, em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/9/2017 (Có mặt).

Người bị hại: Anh Lê Duy Kh, sinh năm 1985.

Địa chỉ: tổ A, khu phố B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Minh V, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp 1, xã X, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Ngọc H là bạn của anh Lê Duy Kh cùng trú tại khu phố B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 17/7/2016, H đến nhà anh Kh chơi, sau đó H hỏi mượn xe mô tô biển số 60N9-3691 của anh Kh đi đón bạn gái. Anh Kh đồng ý giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho H sử dụng. H sử dụng xe mô tô biển số 60N9-3691 đến ngày 20/7/2017, do hết tiền tiêu dùng cá nhân, H đã cầm xe mô tô biển số 60N9-3691, giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng minh nhân dân bản phô tô mang tên Trần Ngọc H tại Tiệm cầm đồ 179 do anh Trần Minh V trú tại ấp 1, xã X, huyện V làm chủ được 6.000.000 đồng. Sau khi sử dụng hết số tiền cầm xe, ngày 21/7/2016 H đến tiệm của anh V lấy thêm1.000.000 đồng sau đó Trần Ngọc H đi khỏi địa phương, đến ngày 05/9/2017 bị bắt theo lệnh truy nã.

Thấy Trần Ngọc H không trả xe mô tô, anh Kh đã làm đơn tố cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra. Đến tháng 11/2016, anh Lê Duy Kh phát hiện có người ở xã X sử dụng xe mô tô biển số 60N9-3691. Anh Kh trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã tiến hành thu hồi xe mô tô biển số 60N9-3691.

Tại Văn bản kết luận định giá các loại tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Cửu kết luận xe mô tô biển số 60N9-3691 trị giá8.400.000 đồng.

Tang vật vụ án thu giữ:

- 01 xe mô tô 60N9-3691.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 60N9-3691 mang tên Lê Duy M.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Ngọc H.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu xử lý trả xe và giấy tờ xecho anh Lê Duy Kh.

Bị cáo đã nhận lại chứng minh nhân dân mang tên Trần Ngọc H.

Anh Trần Minh V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.400.000 đồng.

Tại đơn xin bãi nại ngày 21/10/2017, anh Lê Duy Kh có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Ngọc H vì tài sản anh đã nhận lại, bị cáo H cũng đã gặp và xin lỗi anh.

Tại đơn xin bãi nại ngày 23/10/2017, anh Trần Minh V có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Ngọc H vì gia đình bị cáo đã khắc phục số tiền7.000.000 đồng mà bị cáo H đã cầm xe cho anh, đồng thời anh cũng không có yêu cầu bồi thường thêm phần dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ngọc H thừa nhận hành vi mượn chiếc xe mô tô biển số 60N9-3691 của anh Lê Duy Kh sau đó, đem cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, sau đó bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 8.400.000 đồng đúng như bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát huyện Vĩnh Cửu đã truy tố.

Tại Bản cáo trạng số 73/CT/VKS-HS ngày 08/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử bị cáo Trần Ngọc H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ngọc H thừa nhận hành vi mượn chiếc xe mô tô biển số 60N9-3691 của anh Lê Duy Kh, sau đó đem cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Ngọc H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật;

Về dân sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã trả lại xe mô tô biển số 60N9-3691 và giấy chứng nhận đăng ký xe 60N9-3691 cho anh Lê Duy Kh. Anh Kh không yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Bị cáo H đã bồi thường cho anh Trần Minh V và anh V không yêu cầu bồi thường thêm phần dân sự.

Bị cáo đã nhận lại chứng minh nhân dân mang tên Trần Ngọc H.

Bị cáo Trần Ngọc H nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho chị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình có điều kiện làm lại cuộc đời.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 17/7/2016, Trần Ngọc H đến nhà anh Lê Duy Kh hỏi mượn xe mô tô biển số 60N9-3691 được anh Kh đồng ý giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho H sử dụng. Sau đó, H đem xe cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là8.400.000 đồng.

Vì vậy, bị cáo Trần Ngọc H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về dân sự:

Anh Lê Duy Kh đã nhận lại xe mô tô biển số 60N9-3691 và giấy chứng nhận đăng ký xe 60N9-3691 và không yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Anh Trần Minh V đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự.

Bị cáo đã nhận lại chứng minh nhân dân mang tên Trần Ngọc H.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2017.

2. Về dân sự:

Anh Lê Duy Kh đã nhận lại xe mô tô biển số 60N9-3691 và giấy chứng nhận đăng ký xe 60N9-3691 và không yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Anh Trần Minh V đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự.

Bị cáo đã nhận lại chứng minh nhân dân mang tên Trần Ngọc H.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từngày tuyên án, người bị hại anh Lê Duy Kh, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Minh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


101
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về