Bản án 73/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 về tranh chấp hợp đồng vay

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 73/2017/DS-ST NGÀY 15/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử  sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:161/2017/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2017/QĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Sơn Thị R, sinh năm 1966

Địa chỉ: ấp T B, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Bà Thạch Thị Oanh T, sinh năm 1972.

Địa chỉ: ấp T B, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay của bà Sơn Thị R trình bày như sau: Ngày 28/3/2017 bà R có cho bà T vay số tiền 40.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng và số tiền hụi bà T còn thiếu bà 17.000.000 đồng nên viết chung một biên nhận bà T có nhận tiền của bà R 57.000.000 đồng, lãi suất 200.000 đồng tháng (tính trên số tiền vốn 40.000.000 đồng). Đến hạn trả nhưng bà T không trả cũng không đóng lãi nên bà R làm đơn khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền 57.000.000 đồng.Vào ngày 3/10/2017 bà R rút yêu cầu khởi kiện phần tiền hụi 17.000.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay vẫn giữ quan điểm rút một phần khởi kiện và yêu cầu bà T phải trả cho bà số tiền 40.000.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật.

* Theo tự khai và tại phiên tòa hôm nay của bà Thạch Thị Oanh T trình bày như sau: Bà không có vay tiền của bà Sơn Thị R, biên nhận bà R đưa ra là chữ viết của bà nhưng viết có nhận tiền hụi do bà R giao (vì bà R làm đầu thảo bà hụi viên tham gia chơi hụi và hốt được hụi) cho bà chứ không phải tiền vay, hụi cũng đã mãn bà không có nợ gì bà R nên không đồng ý trả theo yêu cầu của bà R.

Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh TràVinh phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ chặc chẽ, đảm bảo thủ tục tố tụng; thực hiện tốt các qui định tại các Điều 36, 39, 68, 97, 177, 205, 208, 209, 210, 211, 220 BLTTDS.Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án quy định tại Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Đối với các đương sự và những người thamgia tố tụng khác từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo qui định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Thị R. Buộc bà Thạch Thị Oanh T có nghĩa vụ trả cho bà Sơn Thị R số tiền 40.000.000đ. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà R với số tiền hụi 17.000.000đ. Không chấp nhận yêu cầu về tiền lãi của bà R. Án phí dân sơ thẩm đương sự phải chịu theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Các đương sự tranh chấp về “Tranh chấp hợp đồng vay” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 5; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị R. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Sơn ThịR yêu cầu bà Thạch Thị Oanh T trả số tiền 40.000.000 đồng và tính lãi mỗi tháng 200.000 đồng từ ngày vay tiền cho đến nay. Phía bà Thạch Thị Oanh T không đồng ý cho là không có nợ bà R, việc không thừa nhận nợ của bà T là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì:

[1] Bà Thạch Thị Oanh T cho là bà tham gia chơi hụi do bà R làm đầu thảo bà hốt hụi được số tiền 57.000.000 đồng nên viết giấy có nhận tiền của bà R giao nhưng tại phiên tòa hôm nay bà không chứng minh được là bà chơi bao nhiêu dây hụi, số tiền, số người tham gia chơi hụi, hốt dây hụi nào để được số tiền 57.000.000 đồng. Giấy biên nhận bà ghi cũng không thể hiện tiền hụi nên việc từ chối trả nợ của bà là không có cơ sở chấp nhận mà buộc bà T phải có trách nhiệm trả nợ cho bà R.

[2] Bà Sơn Thị R yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật: Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2017 bà R yêu cầu trả số tiền 57.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, các lần hòa giải bà R cũng không đặt ra yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa hôm nay bà R yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật là không có cơ sở chấp nhận, vượt phạm vi yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Bà Sơn Thị R cho là trong 57.000.000 đồng có 17.000.000 đồng tiền hụi,40.000.000 đồng tiền vay. Nay bà chỉ yêu cầu giải quyết phần tiền vay, tiền hụi không yêu cầu nên rút một phần khởi kiện. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà R là tự nguyện đúng quy định pháp luật nên chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà R với số tiền 17.000.000 đồng.

Quan điểm của Vị đại diện viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Thạch Thị Oanh T phải nộp theo quy định pháp luật vì yêu cầu không được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định phápluậtVì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 5; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463; 466; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ banThường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị R. Buộc bà Thạch Thị Oanh T có trách nhiệm trả cho bà R số tiền 40.000.000 đồng.

Đình chỉ giải quyết một phần khởi kiện của bà Sơn Thị R với số tiền 17.000.000 đồng.Bác yêu cầu tiền lãi của bà Sơn Thị R.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Thạch Thị Oanh Th phải nộp 2.000.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Hoàn trả cho bà Sơn Thị R số tiền tạm ứng án phí đã nộp 712.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0010023 ngày 18/4/2017 Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án dân sự, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án dân sự còn phải trả lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại khỏan 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Án xử công khai có mặt nguyên-bị đơn. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 về tranh chấp hợp đồng vay

Số hiệu:73/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Trà Vinh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về