Bản án 73/2017/HSST ngày 12/12/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 73/2017/HSST NGÀY 12/12/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 56/2017/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2017 về tội “Cố ý gây thương tích ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/QĐXX-ST ngày 23 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Lâm Ngọc C; sinh năm 1990; HKTT: ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Con ông Lâm Ngọc T; sinh năm 1960 và bà Thị M; sinh năm 1963; Vợ tên Thị Thu H; sinh năm 1997 và có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được cho tại ngoại để điều tra cho đến nay (có mặt ).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Võ Thị Phương Thảo - Trợ giúp viên của  Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt) .

Người bị hại: Ông Đặng Văn Nh (Mười N) ; sinh năm 1974 (có mặt)

HKTT: ấp Quy Lân 6, xã Thạnh Qưới, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Nguyệt C; sinh năm 1972 (vắng mặt)

Trú tại: ấp Tân Hòa A, xã Tân Hiệp B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Người làm chứng: Ông Danh Q (V); sinh năm 1950 (có mặt)

HKTT: ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đưc tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 06/3/2017 Lâm Ngọc C tổ chức uống bia tại nhà ở ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. cùng với Danh Kvà Danh D. Trong lúc uống bia C nói cho Kvà D nghe việc mấy ngày trước giữa C và Đặng Văn Th (con của ông Đặng Văn Nh) có mâu thuẫn về việc chạy máy cắt lúa, nói xong C bỏ ra xe môtô đậu trước sân nhà và điều khiển xe đi tìm Th. Khi C chạy xe đến nhà ông Ph ở ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa thì Cường thấy chẹt của Th đậu dưới mé sông nhà ông P h. Tại đây C gặp Th và hai bên cự cải với nhau. Sau đó C điều khiển xe mô tô về nhà lấy 01 cây dao yếm dài 68cm quay lại tìm Th nhưng không gặp. Lúc náy ông Danh V đi cùng với ông Đặng Văn Nh đang đi bộ trên lộ nông thôn thuộc ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, C nhìn thấy ông Nh đi bộ về hướng chẹt đang đậu, do trời tối nên C không nhìn thấy rõ, C nghĩ ông Nh là Th nên C đậu xe môtô gần đó đi bộ đến chỗ ông Nh, C dùng dao chém 01 nhát vào cánh tay trái của ông Nh, ông Nh la lên, khi nghe ông Nh la lên thì C biết mình đã chém lầm n gười nên cầm dao đi bộ ra xe môtô chạy về nhà. Ông Nh được mọi người đưa đi cấp cứu điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang đến ngày 13/3/2017 thì xuất viện. C được Công an xã Minh Hòa mời về làm việc và thừa nhận h ành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 213/KL -PY ngày 11/4/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích của Đặng Văn Nh như sau:

- Dấu hiệu chính tại thời điểm giám định:

+ Sẹo sơ cứng cẳng tay trái.

+ Gẫy 1/3 giữa xương trụ trái.

+ Đứt gân duỗi cổ tay và đứt gân cơ duỗi ngón 1,2,3,4,5.

+ Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên là 28% (Hai Mươi tám phần trăm).

Về vật chứng trong vụ án: 01 cây dao yếm có hai phần, phần cán dao làm bằng gỗ tre hình trụ tròn, dài 24,5cm; phần lưỡi dao bằng kim loại màu nâu đen dài 43,5cm bị rỉ sét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị c áo bồi thường tiền thuốc điều trị 2.592.970 đồng; tiền ngày công lao động 144.000.000 đồng; tiền mổ lấy inox 15.000.000 đồng; tiền dư ỡng sức 30.000.000 đồng, Tổng số tiền 192.341.470 đồng. Bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng. Hiện bị c áo đã bồi thường được 20.000.000 đồng, hiện đang gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu T hành.

Đối với người có quyền lợi ng hĩa vụ liên quan là chị ruột của anh Đặng Văn Nh sau khi bị thương tích chị Đặng Thị Nguyệt C có trực tiếp nuôi bệnh cho anh Nh nhưng qua làm việc chị C không yêu cầu bị cáo C trả lại tiền ngày công lao động nên không xem xét.

Tại bản cáo trạng số: 61/CTr- VKS ngày 05/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lâm Ngọc C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS.

Tại phiên tòa , đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lâm Ngọc C phạm tội: “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 ; Điều 47 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Lâm Ngọc C từ 18 đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận là bị cáo sẽ bồi thường cho ông Đặng Văn Nh  tiền thuốc điều trị thương tích là 2.592.000 đồng; tiền ngày công lao động 7.500.000 đồng tiền mổ lấy inox 15.000.000đồng, tiền ăn trong quá trình nằm viện là 5.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho ông Nh là 40.092.000 đồng.

Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao yếm có hai phần, phần cán dao làm bằng gỗ tre hình t rụ tròn, dài 24,5cm; phần lưỡi dao bằng kim loại màu nâu đen dài 43,5cm bị rỉ sét.

Bị cáo và người bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Riêng bà Võ Thị Phương Thảo - Trợ giúp viên thu ộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang bào chữa cho bị cáo  có ý kiến trình bày như sau: Về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS thì Trợ giúp viên hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát. Tuy nhiên về hình phạt cũng mong HĐXX xem xét: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng bị cáo cũng đã tích cực khắc phục bồi thường  số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại , bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số nên việc am hiểu pháp luật có phần còn hạn chế. Bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi vợ và con còn nhỏ. Do đó, Trợ giúp viên đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Lâm Ngọc C 01 năm tù cũng đã đủ thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự đối với các khoản tiền như tiền thuốc điều trị thương tích là 2.592.000đồng; tiền mổ lấy inox 15.000.000 đồng, tiền ăn trong quá trình nằm viện là 5.000.000 đồng , tiền ngày công lao động là 7.500.000 đồng  và tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng thì giữa bị cáo với bị hại đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau nên đề nghị HĐX X ghi nhận.

Bị cáo không bổ sung gì thêm về quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên. Bị cáo được nói lời nói sau cùng , bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu tro ng hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] - Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm s át viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụn g, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] – Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ, ngày 06/3/2017 Lâm Ngọc C tổ chức uống rượu cùng với Danh K và Danh D , trong lúc uống rượu C kể lại chuyện mấy ngày trước giữa C và anh Đặng Văn Th xảy ra mâu thuẫn trong vụ chạy máy cắt lúa. Sau khi kể xong, C điều khiển xe đi tìm Th và khi gặp nhau hai bên tiếp tục xảy ra cự cải. C liền điều khiển xe chạy về nhà lấy 01 cây dao yếm dài khoảng 68cm quay lại tìm Th  nhưng khi đi đến ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành thì nhìn thấy ông Đặng Văn Nh đang đi bộ trên đường do trời tối nhìn không rỏ nên C tưởng ông Nh và Th nên C lấy dao chém 01 nhát trúng vào cánh tay trái của ông Nh, ông Nhla lên thì C biết mình đã chém nhằm nên C bỏ đi. Theo kết quả giám định pháp y thì hiện tại sức khỏe ông Nh bị suy giảm do thương tích gây nên là 28%. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS thì “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tt từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm” như vậy hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm (được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS) để gây thương tích cho ông Nh của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Xét về tính chất, mức độ h ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của người kh ác mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo nhận thức được cố ý gây thương tích cho người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì một chút mâu thuẫn nhỏ trong việc tranh chấp chạy máy cắt lúa mà giữa bị cáo với anh Th đã xảy ra cự cải với nhau, không dừng lại bị cáo còn cố ý đi về nhà lấy dao là hung khí nguy hiểm đi tìm anh Th để gây thương tích nhưng do trời tối khi thấy ông Nh đang đi bộ trên đường bị cáo nghỉ ông Nh là anh Thnên đã dùng dao chém 01 nhát trúng vào cánh tay trái của ông Nh. Chính hành vi sai phạm của bị cáo đã làm tổn hại đến sức khỏe của ông Nh đến 28%, làm cho ông Nh phải bỏ công điều trị bệnh và không lao động sản xuất được làm tổn hại cả về vật chất cũng như tinh thần của ông Nh . HĐXX nghị án thảo luận thiết nghĩ cần phải tách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]- Xét về tình tiết giảm nhẹ : Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số , trình độ học vấn lại thấp nên việc am hiểu pháp luật có phần còn hạn chế ; sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực khắc phục hơn 1/2 hậu quả cho người bị hại . Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nên HĐXX sẽ áp dụng thêm Điều 47 BLHS chuyển sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật cho bị cáo, để xem xét hình phạt khi lượng hình nhằm có mức án phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo chở thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

[4] - Xét đề nghị của vị đại diện VKS t ại phiên tòa về việc định tội danh cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luậ t. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên việc am  hiểu pháp luật có phần còn hạn chế, ngoài ra cho thấy hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn vợ không có việc làm ổn điịnh, con thì còn nhỏ chưa đầy 03 tuổi, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ thêm 01 phần hình phạt c ho bị cáo cũng là phù hợp.

[5] - Xét đề nghị của bà Võ Thị Phương Thảo - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang bào chữa cho bị cáo là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] - Về trách nhiệm dân sự:

6.1 Tại phiên tòa giữa bị cáo với người bị hại  ông Đặng Văn Nh đã tự nguyện thỏa thuận là bị cáo sẽ bồi thường cho bị hại các khoản tiền như sau: Tiền thuốc điều trị thương tích là 2.592.000 đồng, tiền mổ lấy Inox là 15.000.000 đồng , tiền tổn thất tinh thần là 1 0.000.000 đồng và tiền mất thu nhập là 7.500.000 đồng. Do giữa bị cáo và người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau  về các khoản tiền bồi thường thiệt hại nên HĐXX sẽ ghi nhận để xem xét.

6.2 Đối với người có quyền lợi liên quan bà Đặng Thị Nguyệ t C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

[7] - Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng : Đối với 01 cây dao yếm có hai phần, phần cán dao làm bằng gỗ tre hình trụ tròn, dài 24,5cm; phần lưỡi dao bằng kim loại màu nâu đen dài 43,5cm bị rỉ sét là hung khí bị cáo dùng để gây án đến nay không còn giá trị sử dụng, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS và khoản 2 Điều 76 BLTTHS cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[8] - Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí H ình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Lâm Ngọc C 01 (một) năm tù . Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Đặng Văn Nh số tiền 40.092.000 đồng, bị cáo được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng đã đưa trước cho ông Nh + với số tiền 10.000.000 đồng đã tạm nộp trước đó, số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân s ự huyện Châu Thành đang quản lý và  được khấu trừ thêm số tiền 10.000.000 đã tạm nộ p tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành theo biên lai thu tiền số: 05495 ngày 08/11/2017, còn lại 15.092.000 đồng buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm thi hành án thì bị cáo còn phải trả cho bị hại thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 BLDS năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS và khoản 2 Điều 76 BLTTHS, xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao yếm có ha i phần, phần cán dao làm bằng gỗ tre hình trụ tròn, dài 24,5cm; phần lưỡi dao bằng kim loại màu nâu đen dài 43,5cm bị rỉ sét.

Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý theo  quyết định chuyển giao vật chứng số: 35/QĐCGVC ngày 14/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Về áp phí áp dụng khoản 2 Điều 99 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử buộc bị cáo Lâm Ngọc C phải nộp 200.000đồng, tiền án phí Hình sự sơ thẩm và (15.092.000 đồng x 5%) = 754.600 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo và người bị hại có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2017/HSST ngày 12/12/2017 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:73/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về