Bản án 73/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 73/2017/HSST NGÀY 27/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2017 HSST ngày 12 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc B, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 10 năm 1992 tại xã H L, huyện H N, tỉnh NA; Nơi cư trú: Xóm X, xã HL, huyện HN, tỉnh NA; Danh chỉ bản số 201 lập ngày 03/8/2017 tại Công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp:Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y ( đã chết); Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 02; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 07/5/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố HT, tỉnh HT xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”

Ngày 26/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Tổng hợp hình phạt 07 tháng tù tại bản án số 20/2014/HSST ngày 07/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố HT, tỉnh HT buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 tháng tù. Bị cáo đã  chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2017, tạm giam từ ngày 03/8/2017 cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Doãn H, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm Y, xã TK, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Xóm X, xã NP, huyện NL, tỉnh NA. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Quốc B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau: Tối ngày 30/7/2017 Nguyễn Quốc B đi từ nhà ở của mình từ xã HL, huyện HN, tỉnh NA đến nhà anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988, địa chỉ: Xóm X, xã TK, huyện TC, tỉnh NA chơi và ngủ qua đêm tại đó. Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 31/7/2017 Nguyễn Quốc B đi từ nhà anh Nguyễn Hữu T đến nhà anh V tại xã TK, huyện TC, tỉnh NA để xin việc làm.Trên đường đi B phát hiện trước cổng nhà ông Nguyễn Doãn B ở Xóm X, xã TK, huyện TC, tỉnh NA có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ đen, biển kiểm soát 37Z1 - 6855 đang để chìa khóa ở ổ khóa điện không có người trông coi, Nguyễn Quốc B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. B lại đẩy xe đi một đoạn sau đó nổ máy ngồi lên xe điều khiển chạy xuống địa phận phường Y, thành phố V, tỉnh NA thì tình cờ gặp chị Trần Thị T, sinh năm 1971, địa chỉ: Xóm Y, xã NP, huyện NL, tỉnh NA là người hành nghề thu mua sắt vụn. B hỏi chị T “ Em có chiếc xe máy bị mất giấy tờ chị có mua không” chị T hỏi “ Xe của ai” B nói “Xe em bị mất giấy tờ”. Chị Trần Thị T hỏi xe bán bao nhiêu, B trả lời bán 550.000đồng (Năm trăm, năm mươi ngàn đồng), chị T đồng ý mua. Sau khi bán được xe thì B bắt xe Buýt lên nhà Phan Văn T tại xã TK, huyện TC, tỉnh NA chơi, đến 14 giờ cùng ngày thì Nguyễn Quốc B đến Ủy ban nhân dân xã TK, huyện TC, tỉnh NA đầu thú và nộp lại số tiền 215.000đồng  (Hai trăm mười lăm ngàn đồng) là tiền bán xe trộm cắp, số tiền còn lại 335.000đồng (Ba trăm, ba lăm ngàn đồng) thì B đã chi tiêu hết.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37Z1 – 6855 mà Nguyễn Quốc B chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Doãn H, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm HT, xã  TK, huyện TC, tỉnh NA.

Ngày 31/7/2017 chị Trần Thị T đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37Z2 - 6853 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Tại bản kết luận định giá số 33/KL- ĐG ngày 02/8/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An kết luận: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37Z2 - 6853 mà Nguyễn Quốc B chiếm đoạt có trị giá 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng)

Ngày 14/8/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương đã trả lại chị Trần Thị T số tiền 215.000đồng  (Hai trăm mười lăm ngàn đồng).

Ngày 21/8/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37Z2 - 6853 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Doãn H Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 75/VKS - HS ngày 11 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Quốc B về tội "Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Điểm c  khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1,2  Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Quốc B mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc B khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu được, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà.

Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/7/2017 tại xóm C, xã TK, huyện TC, tỉnh NA, Nguyễn Quốc B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ đen, biển kiểm soát 37Z1 - 6855 có trị giá 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) của ông Nguyễn Doãn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm HT, xã  TK, huyện TC, tỉnh NA. Bị cáo phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử cùng về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, do muốn được hưởng thụ nhưng lại lười lao động nên bị cáo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật vì vậy phải cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích.

Tuy nhiên xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện đến Ủy ban nhân dân xã TK, huyện TC đầu thú và nộp lại số tiền thu lợi bất chính đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong vụ án này có chị Trần Thị T là người đã mua chiếc Mô tô biển kiểm soát 37Z1 – 6855 từ bị cáo, nhưng chị không biết được đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị Trần Thị T là đúng pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Quốc B 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 7 năm 2017.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Quốc B phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dan sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng có bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm iết.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:73/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về