Bản án 73/2018/DS-ST ngày 20/09/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 73/2018/DS-ST NGÀY 20/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Vào ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện dân sự sơ thẩm thụ lý số101/2018/TLST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2018; Về việc: "Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2018/QĐST-DS ngày29/8/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân V;

Địa chỉ: Tổ 02 ấp Đ, xã V, huyện S, An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết A sinh 1959, Cán bộ tín dụng của Quỹ tín dụng nhân dân V. Theo văn bản ủy quyền ngày 09/3/2018.

2. Bị đơn:

2. 1. Ông Huỳnh Phước Đ, sinh năm 1964;

2. 2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1965;

Nơi cư trú: Số 157/8 ấp V, xã V1, huyện S, An Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3. 1. Anh Huỳnh Thanh Trường G, sinh năm 1985;

3. 2. Anh Huỳnh Thanh Hoàng A, sinh năm 1995;

3. 3. Anh Huỳnh Thanh Hoàng N, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Số 157/8 ấp V, xã V1, huyện S, An Giang.

 (Tất cả bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt; Đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân V ngày 01/6/2018 và lời khai của ông Lê Viết A (đại diện theo ủy quyền) trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau:

Quỹ tín dụng nhân dân V (viết tắt là tín dụng V) có ký hợp đồng tín dụng số 0460.07/HĐTD ngày 24/11/2016 cho vợ chồng ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ vay số tiền 375.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 11,4 %/năm (quá hạn 150%) và trả vốn lãi cuối kỳ; Mục đích vay là mua sắm tài sản. Khi vay vợ chồng ông Đẳng, bà Đẹp có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S409072 cấp ngày 19/7/2001 với diện tích 3.105m2 loại đất ở, đất cây lâu năm và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5011000091 cấp ngày 17/9/2001 theo hợp đồng thế chấp số 0460.07/HĐTC ngày 24/11/2016. Từ khi vay đến nay ông Đẳng, bà Đẹp chỉ trả lãi được số tiền 43.343.800đ, riêng số vốn và lãi quá hạn đến nay vẫn chưa thanh toán cho Quỹ tín dụng.

Nay Quỹ tín dụng nhân dân V yêu cầu ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ trả số nợ vốn đã vay là 375.000.000đ cùng với lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn tạm tính đến ngày 20/9/2018 là 43.825.158đ, đồng thời tính lãi phát sinh theo hợp đồng đến khi thanh toán xong.

* Về phía bị đơn ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ và các con người là có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Thanh Trường G, anh Huỳnh Thanh Hoàng A và anh Huỳnh Thanh Hoàng N thì: Tòa án đã nhiều lần gửi Thông báo, giấy mời đến Tòa án để tạo điều kiện cho gặp phía đại diện nguyên đơn và các đương sự trong vụ án để hòa giải và đối chiếu các khoản nợ nhưng tất cả các lần các đương sự này đều vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ xác định được rằng gia đình ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ có hộ khẩu thường trú tại địa phương thuộc ấp V, xã V1, huyện S, An Giang và hiện tại vẫn có mặt tại địa phương, các giấy tờ và Thông báo của Tòa án gửi thì gia đình có ký nhận nhưng vẫn không có mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

 [1] Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, không cùng mục đích lợi nhuận nên thuộc khoản 3 Điều 26 và căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, phía bị đơn là vợ chồng ông Huỳnh Phước Đ, bàTrần Thị Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh Thanh Trường G, anh Huỳnh Thanh Hoàng A và anh Huỳnh Thanh Hoàng N đều vắng mặt không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

 [2] Về quan hệ hợp đồng tín dụng: Xét hợp đồng tín dụng số 0460.07/HĐTD ngày 24/11/2016 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân V với ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ có nội dung: Ông Đẳng, bà Đẹp vay của tín dụng V số tiền tổng cộng 375.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 11,4 %/năm (quá hạn 150%) và trả vốn lãi cuối kỳ; Hợp đồng đã được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện. Phía đại diện tín dụng V yêu cầu ông Đẳng, bà Đẹp thanh toán vốn còn nợ 375.000.000đ và lãi suất phát sinh, trong khi ông Đẳng, bà Đẹp không có ý kiến phản bác về yêu cầu của tín dụng V và cũng không cung cấp chứng cứ khách quan chứng minh đã thanh toán xong số nợ nêu trên. Vì vậy, yêu cầu trả nợ của phía tín dụng V là có căn cứ nên được chấp nhận và buộc ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ có trách nhiệm trả số tiền vốn đã vay 375.000.000đ và toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn theo bản chiết tính ngày 17/9/2018 do phía tín dụng V đã tính toán, cung cấp tổng cộng là 43.825.158đ.

 [3] Về hợp đồng thế chấp tài sản: Xét hợp đồng thế chấp số 0460.07/HĐTC ngày 24/11/2016 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân V với ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ có nội dung: Ông Đẳng, bà Đẹp đồng ý thế chấp toàn bộ diện tích 3.105m2 loại đất ở, đất cây lâu năm và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5011000091 cấp ngày 17/9/2001 để đảm bảo số tiền đã vay vốn, lãi và các khoản phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Về nội dung, hình thức của hợp đồng đã được công chứng, đăng ký thế chấp, đã tuân thủ đúng theo các quy định tại Điều 317, Điều 319 của Bộ luật dân sự 2015 và đến thời điểm này không bên nào có tranh chấp về các điều khoản trong hợp đồng và đồng thời các anh Huỳnh Thanh Trường G, anh Huỳnh Thanh Hoàng A và anh Huỳnh Thanh Hoàng N không khiếu nại. Do đó, hợp đồng thế chấp số 0460.07/HĐTC ngày 24/11/2016 có giá trị pháp lý và sẽ được duy trì, phát mãi để ưu tiên đảm bảo cho khoản nợ đã được thỏa thuận thế chấp trong hợp đồng. Ngoài ra, phía quỹ tín dụng V yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng trên số nợ gốc 375.000.000đ đến khi thanh toán xong số nợ, đây là yêu cầu phù hợp nên được chấp nhận.

 [4] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ bị buộc trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân V nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 317 và Điều 319 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

+ Chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân Vĩnh Chánh (do ông Lê Viết A đại diện). Buộc ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân V số tiền vốn, lãi tổng cộng là 418.825.158đ (Bốn trăm mười tám triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn một trăm năm mươi tám đồng).

+ Ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 375.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số 0460.07/HĐTD ngày 24/11/2016, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

+ Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 0460.07/HĐTC ngày 24/11/2016 đối với tài sản đã thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về án phí, lệ phí sơ thẩm:

+ Ông Huỳnh Phước Đ, bà Trần Thị Đ phải chịu chung 20.753.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Quỹ tín dụng nhân Vĩnh Chánh không phải chịu án phí nên được hoàn lại 9.375.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0001201 ngày 07/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi h ành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2018/DS-ST ngày 20/09/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:73/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về