Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 73/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 23 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 357/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1983; Địa Chỉ: Ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Tạm trú: Ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc P, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 5 năm 2019 và qua các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn-chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Chị và anh Trần Ngọc P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2005, ngày 28-3-2005. Vợ chồng chung sống hạnh Pc cho đến tháng 4 năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, anh P không chăm lo cho gia đình, uống rượu về gây chuyện với vợ con, đánh chị nhiều lần, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng ly thân từ tháng 4-2019, trong khoảng thời gian ly thân vợ chồng không gặp nhau để bàn việc đoàn tụ, không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Đình Quý, sinh ngày 25/7/2004 và cháu Trần Xuân Thịnh, sinh ngày 29/9/2011. 02 cháu đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vào ngày 04-7-2019, chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại các biên bản hòa giải ngày 11 tháng 6 năm 2019 và ngày 19 tháng 6 năm 2019, bị đơn – anh Trần Ngọc P trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị H về hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc chị yêu cầu ly hôn, anh thừa nhận lời trình bày của chị H là đúng. Nay trước yêu cầu ly hôn của chị, anh không đồng ý vì còn thương vợ con.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Đình Quý, sinh ngày 25/7/2004 và cháu Trần Xuân Thịnh, sinh ngày 29/9/2011. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu Thịnh, chị H nuôi cháu Quý.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vào ngày 19-6-2019, anh P có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đối với quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị H và anh P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2005, ngày 28-3-2005. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với lời khai của bị đơn, thể hiện: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh Pc đến tháng 4 năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh P không chăm lo cho gia đình, uống rượu về gây chuyện với vợ con, đánh vợ nhiều lần. Vợ chồng ly thân từ tháng 4-2019, trong khoảng thời gian ly thân vợ chồng không gặp nhau để bàn việc đoàn tụ, không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn đối với anh P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Đình Quý, sinh ngày 25-7-2004 và Trần Xuân Thịnh, sinh ngày 29-9-2011. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Theo biên bản lấy lời khai ngày 11-6-2019, thể hiện 02 cháu đang sống với mẹ và có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Hội đồng xét xử giao 02 cháu cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Trần Ngọc P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết .

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 và 81 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc H đối với anh Trần Ngọc P. Chị H được ly hôn với anh P.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 62/2005, ngày 28-3-2005, giữa chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Trần Ngọc P do Ủy ban nhân dân xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây cấp ngày 28-3-2005, không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Đình Quý, sinh ngày 25/7/2004 và cháu Trần Xuân Thịnh, sinh ngày 29/9/2011. Anh Trần Ngọc P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu anh Trần Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, sau này khi đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể xem xét việc tH đ i người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con nếu cần thiết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009171 ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con

Số hiệu:73/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Dầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về