Bản án 74/2017/HSST ngày 06/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 74/2017/HSST NGÀY 06/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 6 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2017/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2017/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn D, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 19/10/1969 tại Huyện B, tỉnh Lao Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Tổ 27, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Vũ Như T, sinh năm 1937 và con bà: Trần Thị T, sinh năm 1935. Đêu tru tai: Tổ 27, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có vợ: Đỗ Thị V, sinh năm 1974; trú tại: Tổ 27, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Con: Có 01 con sinh năm 1995. Bị cáo Vũ Văn D bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2017, tạm giam ngày 07/6/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 01/6/2017, Tổ công tác Công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba đường Đăng Châu và Thủy Hoa thuộc tổ 01, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang Vũ Văn D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 gói ni lon mầu xanh bên trong là gói ni lon mầu trắng chứa chất bột khô, mầu trắng vón cục, Vũ Văn D đang cầm trong lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là Hêrôin. Ngoài ra còn thu giữ của Vũ Văn D 01 điện thoại, nhãn hiệu Nokia mầu đỏ-đen đã qua sử dụng và 01 xe máy, nhãn hiệu Honda Wave RSX, mầu đỏ-đen, BKS 24B1-842.45.

Ngày 02/6/2017, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Lào Cai ra quyết định trưng cầu giám định số 109, trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai giám định về ma túy và gửi số vật chứng thu giữ đi giám định. Tại biên bản mở niêm phong, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 02/6/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định: Trọng lượng của số chất bột khô mầu trắng, vón cục gửi giám định là 0,22 gam. Trích mẫu giám định 0,07 gam, còn 0,15 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Tại Kết luận giám định số 118/GĐMT ngày 07/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,22 (Không phẩy hai hai) gam chất bột khô, mầu trắng, vón cục là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Quá trình điều tra, Vũ Văn D khai nhận: Do bản thân không có việc làm ổn định, nghiện ma túy từ nhiều năm trước, nên khoảng 11 giờ ngày 01/6/2017, Vũ Văn D lấy xe máy, nhãn hiệu Honda Wave RSX, mầu đỏ-đen, BKS 24B1-842.45 điều khiển từ nhà đến khu vực Cổng bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai (Bệnh viện 500 giường). Tại đây, Vũ Văn D hỏi và mua được 01 gói Hêrôin được gói bên ngoài là lớp ni lon mầu xanh bên trong là lớp ni lon mầu trắng của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua xong, Vũ Văn D điều khiển xe máy đi về phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai tìm nơi sử dụng, khi đang dựng xe máy tại ngã ba đường Đăng Châu và Thủy Hoa thuộc tổ 01, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai  thì Vũ Văn D bị Tổ công tác Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quản tang cùng toàn bộ tang vật.

Bản cáo trạng số 72/ KSĐT ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận tội, như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1; 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ Luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ 0,15 (không phẩy mười năm gam) Heroine được đựng trong một bì thư dán kín, tái niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Tạm giữ 01 điện thoại  hiệu NOKIA mầu đỏ - đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo để đảm bảo Thi hành án.

Tại phiên Tòa bị cáo Vũ Văn D thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,  bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.

Như vậy do bản thân không có việc làm ổn định, nghiện ma túy từ nhiều năm trước, nên khoảng 11 giờ ngày 01/6/2017, Vũ Văn D lấy xe máy điều khiển từ nhà đến khu vực Cổng bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai (Bệnh viện 500 giường). Tại đây, Vũ Văn D hỏi và mua được 01 gói Hêrôin, được gói bên ngoài là lớp ni lon mầu xanh, bên trong là lớp ni lon mầu trắng của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy Vũ Văn D đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Trọng lượng gói ma túy thu giữ của bị cáo 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam. Tại kết luận giám định trong tố tụng hình sự của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Số chất bột khô, màu trắng gửi giám định đều là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”

Căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản suất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm: a)....b)....c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Ampheamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Như vậy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có trọng lượng 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam của bị cáo Vũ Văn D tương ứng với hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi năm 2017 Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ Luật hình sự năm 2015 xử mức hình phạt có lợi cho bị cáo.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.

Xét về nhân thân bị cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo. Bản thân bị cáo là người có công với cách mạng, là đối tượng thương binh loại A, hạng 4/4 đang hưởng trợ cấp thương binh, bố bị cáo ông Vũ Như T được Hội Đồng Nhà Nước, Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng Huân Chương Kháng Chiến Hạng nhất, đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được qui định tại điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với người đan ông đã bán ma túy cho Vũ Văn D, do Vũ Văn D không biết tên, tuổi, đia chi cua ngươi nay ơ đâu nên quá trình điều tra đã không chứng minh làm rõ được. Viện kiểm sát không đề cập. Vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vật chứng:

Đối với chiếc xe máy , nhãn hiệu Honda Wave RSX, mầu đỏ-đen, BKS24B1-842.45 mà Vũ Văn D sử dụng lam phương tiên đi mua ma tuy . Quá trình điều tra đã chứng minh, chiếc xe trên là của vợ Vũ Văn D là chị Đỗ Thị V, việc Vũ Văn D sử dụng chiếc xe đi mua ma túy chị Đỗ Thị V không biết. Ngày 26/6/2017, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Lào Cai quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Đỗ Thị Vân chiếc xe trên là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 0,22 gam Heroine cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo; đã trích mẫu giám định 0,7 gam (không phẩy bảy gam) không hoàn lại; còn lại là 0,15 (không phẩy mười năm mươi) gam Heroine, đây là vật chứng của vụ án. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ Luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ; Đối với 01 điện thoại hiệu NOKIA mầu đỏ-đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Điều luật quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng  khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1; 2 Điều 46  Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 1 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01 tháng 6 năm 2017.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ Luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ 0,15 (không phẩy mười năm) gam Heroine được đựng trong một bì thư dán kín, tái niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Vũ Văn D có hành vi phạm tội về ma tuý. Phát hiện (thu giữ) ngày 01/6/2017 tại tổ 01, phường D Hải, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.

Tạm giữ 01 điện thoại  hiệu NOKIA mầu đỏ-đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo để đảm bảo Thi hành án.

Án phí: Bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm  báo cho bị cáo biết có quyền  kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về