Bản án 74/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 74/2018/HS-ST NGÀY 28/12/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28/12/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số 72/2018/TLST-HS ngày 31/10/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2018/QĐXXST-HS ngày 08/11/2018 và Quyết  định hoãn phiên tòa số 20/2018/HSST  - QĐ ngày30/11/2018 đối với bị cáo: PHẠM THỊ L, sinh năm 1979 tại xã ỨH, huyện NG, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn ĐX, xã ỨH, huyện NG, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; có chồng là Nguyễn Văn L1, sinh năm 1976; có ba con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

-  Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn CT, xã HH, huyện GL,tỉnh Hải Dương.

(Có đơn xin xử vắng mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-  Anh Trần Văn P, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn Thôn CT, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

(Có đơn xin xử vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có ý định trộm cắp tài sản, khoảng 07 giờ 20 phút ngày 11/9/2018, Phạm Thị L đến công ty may xuất khẩu SSV để làm việc như mọi ngày, khi đến công ty, L dắt xe máy của mình vào trong lán xe của công ty, trong quá trình dựng xe tại lán xe, L nhìn thấy chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; trú tại: Thôn Thôn CT, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương là công nhân cùng làm việc tại Công ty cũng đang dựng xe máy nhãn hiệu Honda- Lead BKS 34B – 85.221 của mình cùng lán xe với L. Tại đây, L nhìn thấy chị M có để chiếc ví màu nâu vào giữa bộ quần áo mưa rồi cất trong cốp xe máy của chị M, L nghĩ trong chiếc ví của chị M có tiền nên lúc này L đã nẩy sinh ý định trộm cắp chiếc ví của chị M. Để thực hiện ý định của mình, đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang làm việc ở khu xưởng may trong công ty xuất khẩu SSV thì L xin đi vệ sinh. L đi bộ xuống cầu thang lối đi ra lán xe chỗ chiếc xe máy của chị M dựng. L dong chiếc xe máy 34B1 – 85.221 của chị M vào cuối lối đi giữa hai kho tồn trong công ty cách vị trí để xe ban đầu khoảng 20m, mục đích để lấy tài sản trong cốp xe. L dựng xe bằng chân chống cạnh, xe nghiêng về bên trái, L đứng bên phải của xe đạp chân phải lên phần bụng xe đồng thời cúi thấp người xuống dùng cả hai tay bám vào mép bên trái của yên xe. L dùng lực của cả hai tay kéo mạnh lên phía trên cho phần cốp xe bị hở ra một khoảng rộng 10cm, tay trái của L giữ phần cốp xe, tay phải thò vào bên trong cốp xe kéo bộ quần áo mưa của chị M bên trong cốp xe ra. Lúc này chiếc ví của chị M trôi ra cùng bộ quần áo mưa. Thấy vậy, L dùng tay cầm chiếc ví cất giấu vào trong áo mình đang mặc trên người, để xe của chị M tại đó rồi đi về khu phân xưởng làm việc bình thường. Tại phân xưởng, L cất giấu chiếc ví tại túi đồ cá nhân của mình. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày khi công nhân Công ty may xuất khẩu SSV nghỉ làm việc thì L mang chiếc ví để vào trong cốp xe máy của mình rồi đi về nhà. Khoảng 19 giờ ngày 12/9/2018 L bỏ chiếc ví ra kiểm tra thấy trong ví có một cọc tiền 60.000.000đồng; gồm 101 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng, 47 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đồng được buộc bằng  một  dây  chun  màu  đen  để  ở  trong  một  bì  thư;  một  tờ  tiền  mệnh  giá 500.000đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng, một bao lì xì mầu đỏ bên trong có 12 tờ mệnh giá 20.000đồng, một chứng minh nhân dân của chị M, 02 chiếc thẻ Bảohiểm y tế mang tên chị M và anh P (chồng chị M). L đã rút ra 20.000.000đồng trong cọc tiền 60.000.000đồng của chị M tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 569/QĐ - HĐ ĐGTS ngày 25/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc kết luận: 01chiếc ví loại ví nữ cầm tay mầu nâu tím, ví giả da có khoá ngang mua năm2017, ví đã qua sử dụng trị giá 40.000đồng.

Cáo trạng số 72/VKS-HS ngày 30/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội “Trộm cắp tài sản”  theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Thị L, xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã ỨH, huyện NG, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: 01 USB nhãn hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 4GB mã DT 101G2 đã được niêm phong. Đây là tài liệu phục công tác điều tra vụ án nên cần lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bị hại chị Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của chị M trong quá trình điều tra cũng như trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị xác định tài sản của gia đình chị đã được nhận lại đầy đủ nên không có yêu cầu gì và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại đơn đề nghị và lời khai trong quá trình điều tra anh xác định tài sản anh đã nhận lại đầy đủ, anh không có yêu cầu gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 11/9/2018 tại Công ty may xuất khẩu SSV thuộc địa phận thôn PL, xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Phạm Thị L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 chiếc ví nữ mầu nâu tím, trong ví có số tiền 60.940.000đồng và một số giấy tờ cá nhân được để trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS 34B1 –85.221 của chị Nguyễn Thị M. Chiếc ví nữ có trị giá là 40.000đồng. Tổng giá trị tàisản mà bị cáo L trộm cắp của chị M là 60.980.000đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ là vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự an ninh trên địa bàn, gây tâm L hoang mang trong quần chúng nhân dân,. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi và mục đích cá nhân nên đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bị cáo chiếm đoạt số tiền 60.980.000đồng, do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS là phù hợp pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là ông Nguyễn Văn V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

 [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 60.940.000đồng, 01 chiếc ví nữ, 01 chứng minh thư nhân dân của chị M, 01 thẻ bảo hiểm y tế của chị M, 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Trần Văn P. Ngày 25/9/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã trả lại cho chị M, chị M đã nhận lại đầy đủ và không yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc USB nhãn hiệu Kingston mầu xanh, dung lượng 4GB mã DT 101 G2 do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gia Lộc sao lưu thu giữ tại hiện trường xẩy ra vụ án là tài liệu phục vụ công tác điều tra nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí, lệ phí  năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân xã ỨH, huyện NG, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Phạm Thị L.

Trong trường hợp bị cáo Phạm Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:74/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lộc - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về