Bản án 74/2019/DS-PT ngày 23/04/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 74/2019/DS-PT NGÀY 23/04/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2019/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2019 về “tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/DS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 122/2019/QĐPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện H, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trương Thành T, sinh năm 1972; thường trú: Số C, đường D, khu phố Đ, phường P, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 19/3/2018); có mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1963; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; có mặt.

Cùng địa chỉ: số nhà A, tổ Q, ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Y, sinh ngày 08/02/1998; có mặt.

2. Cháu Lê Phúc N sinh ngày 22/4/2008.

Người đại diện hợp pháp của cháu Lê phúc N là bà Phạm Thị H (là mẹ đẻ của cháu Lê Phúc N).

3. Anh Nguyễn Đăng T, sinh ngày 01/01/2002; địa chỉ: Áp T, xã N, huyện H, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đăng T là ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T (là cha mẹ đẻ của anh Nguyễn Đăng T).

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

- Nguyên đơn bà Phạm Thị H, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Thành T trình bày: Vào ngày 02/02/2017, ông Lê Văn N, sinh năm 1971 (là chồng của bà H) đi bộ qua đường thì xảy ra va chạm với anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 2002 (là con của ông L và bà T) điều khiển xe mô tô biển số 61F1 - 123.73 trên làn đường dành cho xe ô tô, hậu quả làm ông N bi thương và sau đó tử vong. Quá trình điều trị thương tích và tổ chức đám tang thì do bà H chịu chi phí. Nay, bà H yêu cầu ông L bà T bồi thường số tiền 155.666.000 đồng (một trăm năm mươi năm triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), làm tròn số 155.000.000 đồng, gồm các khoản sau: Vật phẩm phục vụ lễ cúng 6.245.000 đồng, phần mộ và mai táng 113.940.000 đồng; thực phẩm phục vụ tiếp khách viếng 24.150.000 đồng; thực phẩm dùng chung cho tiếp khách và cúng 11.331.000 đồng. Tiền bù đắp tổn thất tinh thần với số tiền 60.500.000 đồng. Như vậy tổng số tiền nguyên đơn bà Phạm Thị H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T phải bồi thường số tiền (155.000.000 đồng + 60.500.000 đồng) là 215.500.000 đồng. Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với các chi phí thể hiện trong đơn khởi kiện như: Chi phí cứu chữa, mất ngày công lao động, cấp dưỡng.

Bị đơn Ông Nguyễn Văn L trình bày: Theo hồ sơ vụ án tai nạn giao thông giữa ông Lê Văn N và anh Nguyễn Đăng T thì lỗi hoàn toàn thuộc về ông Nguyễn Văn N. Trong các lần hòa giải thì ông L đồng ý hỗ trợ cho bà H số tiền 60.000.000 đồng; tuy nhiên bà H không đồng ý thỏa thuận bồi thường nên ông L và bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ theo quyết định của Tòa án để bồi thường. Đối với những chứng từ do bà H đưa ra là kê thêm chi phí nên ông L không đồng ý.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống nhất với lời khai của ông L, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Y trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H như đã trình bày ở trên, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện hợp pháp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lê Phúc N là bà Phạm Thị H có ý kiến: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như người đại diện của nguyên đơn đã trình bày ở trên, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/DS-ST ngày 01/11/2018, Tòa án nhân dân huyện H đã tuyên xử:

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với tiền cấp dưỡng của nguyên đơn bà Phạm Thị H số tiền 212.000.000 đồng; đình chỉ yêu cầu khởi kiện về chi phí cứu chữa, ngày công lao động số tiền 8.576.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H với bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị H số tiền 61.083.000 đồng (sáu mươi mốt triệu không trầm tám mươi ba nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/11/2018, nguyên đơn bà Phạm Thị H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nội dung yêu cầu ông L, bà T bồi thường 220.500.000 đồng gồm: 155.000.000 đồng tiền chi phí mai táng và 65.500.000 đồng do bị tổn thất về tinh thần. Ngày 12/4/2019 (đơn đề ngày 08/4/2019) bà H có đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu ông L, bà T bồi thường 294.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tai nạn giao thông xảy ra ngày 02/02/2017, ông N và ông Nguyễn Đăng T đều có lỗi. Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi chưa phù hợp pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chúng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về nội dung: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/02/2017 tại đoạn đường ĐT 741 thuộc ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bình Dương, ông Lê Văn N đi bộ băng qua đường gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 61F1 - 123.73 do Anh Nguyễn Đăng T điều khiển đi từ hướng UBND xã N đến thị trấn I, huyện H, tỉnh Bình Dương làm ông N tử vong. Bà Phạm Thị H (vợ của ông N) khởi kiện yêu cầu ông L, bà T (là cha mẹ của anh Nguyễn Đăng T) bồi thường chi phí mai táng và tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 215.500.000 đồng, về phần ông L, bà T chỉ đồng ý hỗ trợ 60.000.000 đồng. Qua xem xét hồ sơ tai nạn giao thông, bản kết thúc điều tra số 36/KTĐT ngày 27/3/2017 của Công an huyện H, Công văn số 08/CV - VKS ngày 06/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H thì có đủ cơ sở xác định: Ông N (chồng bà H) đi bộ qua đường không đúng nơi quy định (ở giữa hai làn đường có dãy phân cách) vi phạm Khoản 2 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ, còn anh Nguyễn Đăng T (con của ông L, bà T) điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, đi không đúng làn đường vi phạm Điều 9, Điều 13 Luật Giao thông đường bộ (anh Nguyễn Đăng T sinh ngày 01/01/2002), thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 02/02/2017 thì anh Nguyễn Đăng T mới hơn 15 tuổi. Lỗi chính gây ra tai nạn là do ông N đi bộ qua đường không đúng nơi quy định.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông N có lỗi 55%, anh Nguyễn Đăng T có lỗi 45% là có cơ sở.

[2] Về thiệt hại: Căn cứ vào hóa đơn, chứng từ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận số tiền chi phí mai táng gồm: Vật phẩm phục vụ tang lễ 2.740.000 đồng; phần mộ và mai táng 72.500.000 đồng (gồm: Bia mộ 2.000.000 đồng, đất xây mộ 7.500.000 đồng, mua hòm và mai táng 63.000.000 đồng). Không chấp nhận các khoản thực phẩm phục vụ tiếp khách đi viếng 24.150.000 đồng, thực phẩm dùng chung tiếp khách và cúng 11.331.000 đồng, vàng bỏ miệng, cát, gạch, đá, sắt, công xây mộ là phù hợp với thông lệ chung và có căn cứ, đúng pháp luật tại các Điều 584, 585, 586, 591, 601 Bộ luật Dân sựNghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2016 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền chi phí mai táng 75.240.000 đồng và tính theo tỷ lệ lỗi ông N chịu 55% lỗi = 75.240.000 đồng x 55% lỗi = 41.382.000 đồng. Anh Nguyễn Đăng T chịu 45% lỗi = 75.240.000 đồng x 45% = 33.858.000 đồng là có cở sở.

[3] Xét đối với yêu cầu đòi bồi thường về tổn thất tinh thần: Ông N và bà H là vợ chồng, chung sống có hai con chung là chị Y và cháu Lê Phúc N (cháu Lê Phúc N sinh năm 2008, chưa thành niên). Ông N là lao động chính trong gia đình, ông N chết đi bà H và các con bị đau buồn, mất đi người chồng, người cha. Bà H yêu cầu vợ chồng ông L, bà T bồi thường khoản tiền do bị tổn thất tinh thần 65.500.000 đồng là có cơ sở (gần bằng 50 tháng lương cơ sở 1.390.000 đồng/1 tháng), không vượt quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định phù hợp với Điều 591 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 03, ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền bồi thường tổn thất tinh thần 60.500.000 đồng và ông N phải chịu theo tỷ lệ lỗi 55% là không đúng pháp luật, ông L, bà T và anh Nguyễn Đăng T phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà H là 99.358.000 đồng (gồm: Chi phí mai táng 33.858.000 đồng + bù đắp tổn thất tinh thần 65.500.000 đồng) theo quy định của pháp luật các Điều 275, 288 Bộ luật Dân sự. Xét đơn kháng cáo ngày 14/11/2018 của bà H là có cơ sở chấp nhận một phần. Đơn kháng cáo bổ sung đề ngày 08/4/2019 của bà H là đã hết thời hạn kháng cáo và vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu nên không có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến của Kiểm Sát viên là phù hợp pháp luật, về án phí: Bà Hiền được miễn án phí, ông L, bà T, anh Nguyễn Đăng T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều: 147, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 275, 288, 584, 585, 586, 591, 601 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị H.

2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/DS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Dương như sau: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H đối với ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà Phạm Thị H là 99.358.000 đồng (trong đó chi phí mai táng 33.858.000 đồng, bù đắp tổn thất tinh thần 65.500.000 đồng).

3. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị H được miễn án phí sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T có nghĩa vụ liên đới nộp 4.967.000 đồng.

- Án phí phúc thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự huyện H hoàn trả lại cho bà Phạm Thị H 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0025939 ngày 13/12/2018.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án 23/4/2019./.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về