Bản án 76/2017/HSPT ngày 21/12/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 76/2017/HSPT NGÀY 21/12/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 83/2017/TLPT- HS ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện V.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Dương Văn D, sinh năm 1981; Sinh trú quán: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Dương Đức M và bà Đào Thị I; có vợ là Nguyễn Thị H và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại. Có mặt.

2. Trần Văn H (tên gọi khác: P), sinh năm 1973; Sinh trú quán: Thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 0/12; con ông Trần Văn L (Trần Công L) (đã chết) và bà Trần Thị B; có vợ là Lý Thị G và 02 con, con lớn tuổi sinh năm 1996, con nhỏ tuổi sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H:

1. Ông Lương Trí T, luật sư Văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.

2. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn H: Anh Trần Văn L, sinh năm 1962 (là anh trai bị cáo); Trú tại: xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NHẬN THẤY

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V và Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện V thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/01/2017, Đặng Quang H1 cùng vợ là Phùng Thị Thu H và anh Hồ Minh C (là người làm thuê cho nhà H1) đi chơi ở thành phố Việt Trì về đến nhà ở của H1 ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi về đến nhà, chị H đi ngủ tại phòng ngủ ở tầng một, anh C đi ngủ tại phòng của mình ở gần cổng nhà H1, còn H1 đi vào phòng khách tầng một nhà mình ngồi uống nước rồi lấy chiếc điện thoại di động Iphone 5s màu trắng của mình ra gọi điện cho Nguyễn Thị X, rủ X đến nhà mình chơi. X đồng ý, H1 tiếp tục gọi điện cho Dương Văn D, Lê Xuân B và Trần Văn H, rủ D, B, H đến nhà mình để đánh bạc thì D, B, H đều đồng ý. Sau khi nghe điện thoại của H1, B tiếp tục dùng chiếc điện thoại di động SamSung Duos của mình gọi điện cho Nguyễn Văn T rủ T đến nhà H1 đánh bạc, T đồng ý. Lúc này, K (tên gọi khác là H2) gọi điện cho B hỏi B đang ở đâu để K qua đón B đến nhà H1 để đánh bạc, B trả lời K là đang ở nhà. Sau đó, K điều khiển xe ô tô loại 7 chỗ màu đen đến đón B và T đến nhà H1 để đánh bạc. Khi đến nhà H1, B, K, T gặp X đang ngồi uống nước cùng với H1 tại phòng khách tầng một nhà H1. B, K, T đi vào ngồi uống nước cùng với H1 và X. Trong khi đang ngồi uống nước thì H1 rủ X, B, K, T lên tầng 2 nhà H1 để đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền thì tất cả đều đồng ý. H1 bảo X gọi điện cho D và H hỏi xem D và H gần đến nơi chưa. X đồng ý rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu LG loại G3 của mình gọi điện cho D và H thì D và H nói đang trên đường đến nhà H1. Sau đó, H1 đi xuống bếp lấy 01 chiếc chiếu nhựa, 01 bát sứ và 01 đĩa sứ đem lên phòng khách tầng 2 nhà H1 rồi chải chiếc chiếu nhựa xuống nền nhà và đặt bát, đĩa lên trên chiếc chiếu, rồi H1 tiếp tục lấy kéo cắt 04 quân xóc từ vỏ bao thuốc lá Vinataba có 01 mặt màu vàng và 01 mặt màu trắng. Sau khi chuẩn bị xong công cụ để đánh bạc, H1, X, B, T, K cùng ngồi xuống chiếu bạc để đánh bạc. H1 ngồi cầm cái xóc đĩa đánh bạc với X, B, T và K. Trong khi H1, X, B, T, K đang đánh bạc thì lần lượt có D, H và T1 đến và tham gia đánh bạc cùng với H1, X, B, T và K. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Văn T3 đi đến nhà H1 chơi, thấy cổng nhà H1 cài then nên T3 gọi cửa, anh C đang ngủ ở trong phòng cạnh cổng nhà H1 tỉnh dậy đi ra mở cổng cho T3. T3 đi vào trong nhà H1, còn anh C đi vào phòng ngủ tiếp. Khi vào trong nhà, T3 thấy trên tầng 2 nhà H1 có tiếng người nói nên T3 đi lên tầng 2 nhà H1, thấy H1, X, B, T, K, D, H, T1 đang ngồi đánh bạc với nhau nên T3 cũng ngồi xuống tham gia đánh bạc cùng những người này.

Các đối tượng thống nhất cách chơi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn tiền, quy định sát phạt: mỗi người tham gia đánh bạc đặt tiền cược mỗi ván thấp nhất là 50.000đ còn ai muốn đặt cao hơn thì tùy thỏa thuận với người xóc cái.

Các đối tượng Đặng Quang H1, Nguyễn Thị X, Lê Xuân B, Nguyễn Văn T, K, Dương Văn D, Trần Văn H, T1, Nguyễn Văn T3 đánh bạc với nhau đến khoảng 00 giờ 30 ngày 15/01/2017 thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang, các đối tượng bị bắt gồm: H1, D, T và T3. Còn các đối tượng X, B, H, K, T1 bỏ chạy thoát.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại chiếu bạc: 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh trắng, 01 bắt sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân xóc có một mặt màu vàng và một mặt màu trắng và số tiền 17.500.000đ (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

+ 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh và 01 điện thoại di động Nokia màu đen của Dương Văn D.

+ 01 điện thoại di động Nokia E72 màu trắng của Nguyễn Văn T3.

+ 01 điện thoại di động Iphone 5s màu trắng của Đặng Quang H1.

+ 01 điện thoại di động nhãn Iphone 5 màu đen của Nguyễn Văn T.

+ 01 điện thoại di động LG loại G3 màu vàng đồng đã bị vỡ màn hình. Ngày 16/02/2017, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã chuyển hồ sơ vụ án hình sự nêu trên đến Cơ quan CSĐT công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Trần Văn H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh (đã cũ); Nguyễn Văn T giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Nokia 101 màu xanh (đã cũ); Lê Xuân B giao nộp 01 chiếc điện thoại di động SamSung-Duos màu trắng (đã cũ) cho cơ quan CSĐT công an huyện V. Các đối tượng trên đều khai nhận đây là những chiếc điện thoại các đối tượng sử dụng để liên hệ gọi rủ nhau đến nhà Đặng Quang H1 đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Quang H1, Nguyễn Thị X, Lê Xuân B, Nguyễn Văn T, Dương Văn D, Trần Văn H, Nguyễn Văn T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc như sau: H1 2.000.000đ, D 5.000.000đ, T 2.000.000đ, T3 1.750.000đ, H 1.100.000đ, X 500.000đ, B 300.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Dương Văn D, Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử phạt tù cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt bổ sung, tính án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2017 và ngày 13/9/2017 các bị cáo Trần Văn H, Dương Văn D có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa và người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo với các căn cứ: bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò thứ yếu, trình độ văn hóa không có, nhận thức pháp luật hạn chế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được qui định tại khoản 1,2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

XÉT THẤY

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết.

Về nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thâm, phúc thẩm các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hình thức mà các đối tượng Đặng Quang H1, Nguyễn Thị X, Lê Xuân B, Nguyễn Văn T, Dương Văn D, Trần Văn H, Nguyễn Văn T3 và một số đối tượng khác đánh bạc ăn tiền bằng hình thức sóc đĩa, với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.500.000đ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo H1, X, B, T, D, H, T3 đã thực hiện hành vi phạm tội. Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điêu 248 của Bô luât hinh sư là có căn cứ , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo xin cho hưởng án treo của bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy : Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trât tư công cộng đươc phap luât bao vê , gây mât trât t ự trị an và an toàn cho xã hội , làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình . Đây cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội . Trong vụ án này các bị cáo là người trực tiếp thực hiện tội phạm và tham gia đánh bạc tích cực. Với hành vi tham gia trong vụ án, nhân thân của các bị cáo, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo D mức án 01 năm, bị cáo H mức án 09 tháng là phù hợp qui định của pháp luật. Tuy nhiên các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự đó là: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố đẻ các bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương. Xét thấy các bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46, có nơi cư trú rõ ràng và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Do đo, viêc băt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là chưa cần thiết, nên cho các bị cáo hưởng án treo, đồng thời ấn định một thời gian thử thách theo qui định của pháp luật, giao chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát , giáo dục trong thời gian thử thách cung đu đê giao dục cải tạo  các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp qui định của pháp luật cần chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H (tên gọi khác: P), sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện V.

Tuyên bố: bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H (tên gọi khác: P) phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1,2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14. Căn cứ khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo luật số 12/2017/QH14. Xử phạt bị cáo Dương Văn D: 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn D cho UBND xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1,2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14. Căn cứ khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo luật số 12/2017/QH14. Xử phạt bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: P): 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: P) cho UBND xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo  , không bi kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Dương Văn D và Trần Văn H (tên gọi khác: P) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về