Bản án 76/2018/DS-PT ngày 05/04/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 76/2018/DS-PT NGÀY 05/04/2018 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM 

Ngày 05 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2017/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2017 về  việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 119/2017/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2017/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:

 Nguyên đơn: Chị Hồ Thị A1, sinh năm 1980; cư trú tại: Tổ 12, ấp B1, xã B2, huyện B3, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A2, sinh năm 1960; cư trú tại: số 391/16/7D, đường B4, Khu phố B5, phường B6, Quận B7, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị đơn: Chị Hồ Ngọc A3, sinh năm 1973; cư trú tại: Số 17, tổ 1, ấp B8, xã B9, thành phố B10, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người kháng cáo: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - bà Hồ Thị A1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Hồ Thị A1 và người đại diện hợp pháp của chị A1 thống nhất trình bày:

Chị A1 biết chị Hồ Ngọc A3 do ở gần nhà. Đầu năm 2017, chị A3 dùng mạng xã hội Facebook (gọi tắt Facebook) với tên gọi “A4” để đăng tải những hình ảnh cá nhân của chị A1 kèm theo những lời lẽ vu khống cho rằng chị và chồng chị A3 có quan hệ tình cảm. Ngoài ra, chị A3 còn đến nơi cư trú của chị A1 báo với trưởng ấp và những người sống tại địa phương những thông tin tương tự. Những hành vi của chị A3 là vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị A1, gây tổn thất về mặt tinh thần cho chị A1, chị đang đi làm phải nghỉ phép 01 tuần.

Nay chị A1 khởi kiện yêu cầu chị A3 phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền 13.000.000 đồng và xin lỗi công khai nơi chị A1 sinh sống.

Tại Bản tự khai ngày 06 tháng 8 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – chị Hồ Ngọc A3 trình bày:

Chị không quen biết và không kết bạn trên mạng xã hội facebook với chị A1. Chị xác nhận trước đây có sử dụng facebook với tên gọi “A4” như hình ảnh chị A1 cung cấp. Chị sử dụng từ tháng 12-2016 đến tháng 3-2017 thì không sử dụng nữa do không đăng nhập được. Chị nghi ngờ tài khoản của chị bị đánh cắp vì những người kết bạn với chị đều bị tên gọi “A4” yêu cầu nạp tiền điện thoại. Chị không phải là người đăng những thông tin lên trang facebook, cũng không đến nơi cư trú của chị A1 để thông báo những thông tin như chị A1 trình bày. Hình ảnh chị A1 cung cấp có thể do người đánh cắp tài khoản của chị cắt ghép và đăng tải. Do đó, chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị A1.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 119/2017/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ Điều 590, 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị A1 đối với chị Hồ Thị Trinh về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29-9-2017, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – chị Hồ Thị A1 có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A1.

- Tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của chị A1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của chị Hồ Thị A1 thấy rằng:

[1.1] Về những thông tin đăng tải trên mạng xã hội facebook: Chị A1 tham gia mạng xã hội facebook với tài khoản cá nhân có tên gọi “A5” và tài khoản cá nhân của chị A3 có tên gọi “A4”. Chị A3 thừa nhận facebook mang tên “A4” mà chị A1 cung cấp là của mình nhưng bị lấy cắp mật khẩu, các thông tin trên facebook của chị được chị A1 chụp lại và cung cấp cho Tòa án chị đã được biết nhưng không phải do chị đăng tải. Tuy nhiên, chị A3 không chứng minh được tài khoản facebook của mình bị lấy cắp; mặt khác, chị A3 thừa nhận khi phát hiện trang facebook của mình đăng tải những hình ảnh, thông tin cá nhân của chị A1 thì chị A3 không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với tài khoản cá nhân, không đăng tin đính chính hay có biện pháp nào thể hiện trách nhiệm đối với tài khoản cá nhân trên mạng xã hội facebook. Tại phiên tòa, chị A3 vẫn trình bày không đồng ý cải chính. Những thông tin do tài khoản facebook của chị A3 đăng tải gồm có: Hình ảnh cá nhân của chị A1 và nội dung kèm theo cho rằng chị A1 có quan hệ tình cảm bất chính với chồng chị A3 và dùng những lời lẽ không tốt. Đây là những thông tin xúc phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của chị A1.

[1.2] Ngoài việc đăng tải thông tin trên mạng xã hội facebook, cùng thời gian nói trên, chị A3 còn đến địa phương, nơi cư trú của chị A1 gặp Trưởng ban quản lý ấp B1, xã B2, huyện B3 để xác minh thông tin cá nhân của chị A1 và trao đổi về những thông tin có nội dung trùng khớp với nội dung được đăng trên trang facebook cá nhân của chị A1.

[1.3] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ xác định tài khoản facebook mang tên “A4” là của chị Hồ Ngọc A3 tạo lập, tài khoản này đã đăng tải những thông tin xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chị A1 là có thật.

[1.4] Xét về thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị A1, thấy rằng: Hành vi của chị A3 là trái pháp luật, gây tổn thất về tinh thần cho chị A1. Tại phiên tòa, chị A1 yêu cầu chị A3 bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng so với  mức cao tối đa theo quy định tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 10 tháng lương tối thiểu hiện nay (1.300.000 đồng x 10 = 13.000.000 đồng). Tuy nhiên, chị A1 trình bày chỉ bị hoang mang về tinh thần, không tập trung trong khi làm việc phải xin nghỉ phép ở nhà, ngoài ra không còn ảnh hưởng nào khác, do đó cần buộc chị A3 bồi thường cho chị A1 khoản tiền 5.000.000 đồng để bù đắp một phần tổn thất về tinh thần cho chị A1 là phù hợp. Cấp sơ thẩm chưa thu thập, xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị A1 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị A1.

[2] Đối yêu cầu xin lỗi công khai tại nơi cư trú: Qua xác minh, thu thập chứng cứ tại cấp phúc thẩm xác định ngoài việc chị A3 đến gặp và trao đổi thông tin với Trưởng ấp B1, ở địa phương không ai biết và không nghe ai nói về nhưng thông tin như chị A1 trình bày. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của chị A1.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của chị Hồ Thị A1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên.

[4] Do kháng cáo của chị A1 được chấp nhận một phần nên án phí dân sự sơ thẩm được tính lại. Chị A3 phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, phần yêu cầu của chị A1 được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn chị Hồ Thị A1; sửa bản án sơ thẩm.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị A1 đối với chị Hồ Ngọc A3 về “Tranh chấp Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Buộc chị A3 bồi thường thiệt hại cho chị A1 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Không chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị A1 về việc buộc chị Hồ Ngọc A3 xin lỗi công khai tại nơi cư trú.

5. Án phí:

5.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Ngọc A3 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


646
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về