Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về xin ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 76/208/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Về việc “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kh, sinh năm 1986 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp Rau Dừa C, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Từ Văn Ng, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp Rau Dừa C, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 13/11/2017 và tại phiên tòa chị Võ Thị Kh (nguyên đơn) trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị Kh và anh Ng kết hôn ngày 25 tháng 8 năm 2009 dl, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Mỹ, huyện C. Chị Kh cho rằng vợ chồng chung sống từ năm 2009 cho đến nay thì thường mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng chung sống thường bất hòa và xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Chị Kh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nữa nên chị Kh yêu cầu xin được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Chị Kh trình bày vợ chồng có 01 con chung tên là Từ Thúy D, sinh ngày 24/12/2004, hiện con đang sống với chị Kh. Khi ly hôn chị Kh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chị Kh không yêu anh Ng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Kh trình bày vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ thu và nợ trả: Chị Kh trình bày vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Ng, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh Ng, biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 13/11/2017 nhưng anh Ng không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ anh Ng để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Ng không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Kh, Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Ng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng được quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Chị Kh và anh Ng kết hôn ngày 25 tháng 8 năm 2009 dl, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xét thấy: Lý do chị Kh yêu cầu xin ly hôn với anh Ng là vợ chồng chung sống thường bất hòa và xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Kh và anh Ng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay thời gian rất dài nhưng anh Ng không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng được đoàn tụ, từ đó cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kh được ly hôn với anh Ng là phù hợp.

[2] Về con: Chị Kh trình bày vợ chồng có 01 con chung tên là Từ Thúy D, sinh ngày 24/12/2004. Xét thấy, chị Kh yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con, anh Ng không có ý kiến gì về yêu cầu của chị Kh. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Từ Thúy D hiện nay đang sống với chị Kh đã ổn định về tinh thần và tâm lý. Do đó, yêu cầu nuôi con của chị Kh là phù hợp, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu Từ Thúy D được thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiếp tục giao cháu Từ Thúy D cho chị Kh chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung: Chị Kh trình bày không có, anh Ng không ý kiến gì nên không xem xét.

[4] Về nợ thu và nợ trả: Chị Kh trình bày vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, anh Ng không ý kiến gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 243, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kh như sau:

- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Kh được ly hôn với anh Từ Văn Ng.

- Về con: Tiếp tục giao con tên là Từ Thúy D, sinh ngày 24/12/2004 cho chị Kh chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ng không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Kh phải chịu án phí số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng), chị Kh có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003957 ngày 13/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C được chuyển thu.

Án xử sơ thẩm công khai chị Kh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Ng được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về xin ly hôn, nuôi con

Số hiệu:76/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về