Bản án 76/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 76/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Thái B (tên gọi khác T), sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thái M và bà Phan Thị Hồng N; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ 10/01/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo B bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 12/2016 và loại ma túy thường sử dụng là MDMA (thuốc lắc) cùng bạn bè tại quán bar được 03 lần. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/01/2019 bị cáo hỏi mượn xe gắn máy mang biển số 59Y3-245.17 của Nguyễn Hoàng K để đi dự tiệc sinh nhật của bạn tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo có mua 05 viên nén hình tam giác màu xanh là ma túy từ người thanh niên qua lời giới thiệu của một người bạn bị cáo tên là N. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo rủ bạn mới quen tại tiệc sinh nhật là Nguyễn Văn H và Nguyễn Thành D đến khu vực đồng ruộng xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi để uống bia. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 59Y3-245.17 đưa H và D (đi cùng một xe) ra đường Tỉnh lộ 15 để về huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 15 thuộc ấp 9, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi thì tổ công tác 363 Công an huyện Củ Chi yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Theo kết luật giám định số 385/KLGĐ-H ngày 18/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận 05 viên nén hình tam giác màu xanh trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Thái Bình và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8974 gam loại MDMA.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ sự việc giống như bản cáo trạng nêu. Bị cáo sử dụng chất ma túy từ tháng 12 năm 2016 đến nay 03 lần, loại ma túy thường sử dụng là MDMA (thuốc lắc), chỉ sử dụng khi đi tiệc ở quán bar để nghe nhạc hay hơn, mỗi lần bị cáo chỉ sử dụng một viên ma túy MDMA (thuốc lắc). Bị cáo dùng điện thoại di động của bị cáo để liên lạc và dùng tiền của bị cáo mua trái phép chất ma túy và cũng là người lưu giữ trái phép chất ma túy không ai cùng tham gia với bị cáo. Chiếc xe gắn máy mang biển số 59Y3-245.17 mà bị cáo dùng để đi mua chất ma túy là bị cáo mượn của ông Nguyễn Hoàng Khải, ông Khải không biết bị cáo dùng xe này đi mua trái phép chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 19/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thái B ra trước Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà trong phần luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên toà tiếp tục khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thái B, tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thái B với mức án tù từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng thu được:

Tch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng.

Tch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 385/2019 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên.

Tại phiên toà trong lời nói sau cùng bị cáo Trần Thái B đã thấy được hành vi của mình là sai trái mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Qua diễn biến tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy có cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 10/01/2019 tại địa điểm ấp 9, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi bị cáo B bị bắt quả tang đang tàng trữ 05 viên nén hình tam giác màu xanh là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,8974g loại MDMA (theo kết luận giám định số 385/KLGĐ-H ngày 18/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố Hồ Chí Minh).

Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của người dân tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ chất ma túy là chất gây nguy hại cho xã hội, Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái với quy định của pháp luật, việc bị cáo mua trái phép chất ma túy là tiếp tay cho những phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên thực hiện chỉ vì do cần chất ma túy để sử dụng trái phép nhằm thỏa mãn động cơ cá nhân của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết có như thế mới phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bị cáo tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng phạt tiền theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đi với người tên N và người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Hơn nữa, bị cáo đã khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra làm rõ vụ án; cũng như tại phiên toà và trong lời nói sau cùng thể hiện bị cáo đã có sự ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về thực hiện hoạt động tố tụng: Qua diễn biến phiên toà cũng như kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử chưa ghi nhận có việc khiếu nại hoặc phản ánh tại phiên toà về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và luật sư. Quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền do luật định.

[4] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:

01 xe gắn máy mang biển số 59Y3-245.17 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 gói niêm phong mang số vụ 385/2019 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số Imei: 353820082706049 đã qua sử dụng của bị cáo được dùng vào việc liên hệ mua chất ma túy, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án để buộc bị cáo phải chịu khoản tiền chi phí tố tụng hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thái B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thái B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2019.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số Imei: 353820082706049 đã qua sử dụng.

Tch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 385/2019 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; luật phí, lệ phí năm 2015, nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng buộc bị cáo Trần Thái B phải chịu.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:76/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về