Bản án 76/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

BẢN ÁN 76/2019/HS-ST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, Tòa án nhân dân thành phố B đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/HSST ngày 28/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HS ngày 12/02/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến L, sinh năm 1997 tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: ấp Long Kh3, xã Tam Phư; thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp:không;Trình độ văn hóa: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến C; sinh năm: 1963 (còn sống) và bà: Trần Thị Nh; sinh năm: 1966 (còn sống); Có vợ: Trần Nguyễn Bích Tr, sinh năm 1999 và 01 con, sinh năm 2017; Tiên án; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/8/2018 đến ngày 18/8/2018, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Trong qua trình truy tố, bị cáo bỏ trốn sau đó bị bắt theo Lệnh truy nã; bị cáo bị băt tạm giam từ ngày 28-12-2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thành phốB. Có mặt.

* Người bị hại : Anh Lê Chí H, sinh năm 1981

Trú tại: 273, tổ 4, Khu phố 1, ấp 3, xã A, thành phố B, tỉnh Đ. Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Lê Hoàng Đoàn Th, sinh năm 1991

Trú tại: Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa

(Bị cáo L và người bị hại Lê Chí H có mặt; người làm chứng Lê Hoàng Đoàn Th vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến Long và Lê Hoàng Đoàn Th là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Long rủ Thành đi trộm cắp tài sản, Th đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 27/4/2018, Long giao cho Th điều khiển xe mô tô (không rõ biển số, xe do Lmượn của một người bạn không rõ họ tên, địa chỉ) chở L đi từ khu vực nghĩa trang xã A, thành phố B đến khu vực Cầu Ván, thuộc ấp 3, xã A, thành phố B, tìm ai có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến nhà anh Lê Chí H, sinh năm 1981, địa chỉ số 273, tổ 4, khu 1, ấp 3, xã Athành phố B, L phát hiện có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 60B1 – 137.87 của anh H đang dựng ở sân, chìa khóa cắm sẵn vào ổ khóa xe và không có người trông coi nên Long đi vào lấy trộm, còn Thành đứng bên ngoài cảnh giới. L dùng tay mở chốt cổng rồi đột nhập vào bên trong sân lấy trộm xe mô tô biển số 60B1 – 137.87. Sau đó, L điều khiển xe lấy trộm được mang đến cầm cho Võ Thành Trí, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú ấp Long Đ 2, xã Tam Phc, thành phố B được 800.000đ, số tiền trên Long chia cho Th 200.000đ, sử dụng 200.000đ vào việc mua ma túy đá để cả hai sử dụng chung, số tiền còn lại Ltiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất xe, anh Lê Chí H có đơn trình báo đến Công an xã An Hòa, thành phố B. Qua xác minh, Công an xã A xác định Nguyễn Tiến L, Lê Hoàng Đoàn Th là đối tượng đã lấy trộm xe của anh Hùng. Tại Công an xã A, L và Thành đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên Công an xã A hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giư gồm : không (do sau khi trộm cắp xe, Long đã mang cầm cho đối tượng Võ Thành T, hiện T không có mặt ở địa phương nên chưa thu hồi được).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 250/TCKH-HĐĐG ngày 16/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B đã kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 60B1-137.87, số máy, số khung 0327425 có giá trị định giá là 7.260.000đ.

Về dân sự: Đã được giải quyết tại bản án số 445/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Đi với Lê Hoàng Đoàn Th là đồng phạm với Nguyễn Tiến L đã bị Tòa án nhân dân thành phố B xét xử theo bản án số 445/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Đi với đối tượng Võ Thành T là người đã nhận cầm xe mô tô biển số 60B1– 137.87, qua xác minh, hiện T không có mặt ở địa phương, cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 75/CT/VKS-BH ngày 25/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Lvề tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo L mức án từ: 10 tháng đến 12 tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Tiến L đã khai nhận: bị cáo và Th đều là những đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và sử dụng vào việc mua ma túy, nên vào khoảng 14h00 phút ngày 27/4/2018, tại nhà số 273, tổ 4, khu 1, ấp 3, xã A, thành phố B, tỉnh Đ, bị cáo đã rủ Lê Hoàng Đoàn Th đi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 60B1-137.87 của anh Lê Chí H, theo kết luận giám định thì chiếc xe có giá trị 7.260.000đ. Sau khi lấy được chiếc xe thì L mang xe đi cầm cho Võ Thành T lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lời khai nhận này của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai người bị hại; lời khai người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 75/CT/VKS-BH ngày 25/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP.B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo tuy tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lại không chịu tu dưỡng bản thân, rèn luyện để trở thành một người có ích mà lại đua đòi, sa ngã vào việc sử dụng chất cấm cùng với Th. Chính việc này là nguyên nhân dẫn đến việc làm phạm pháp của bị cáo, để phải đứng trước Tòa ngày hôm nay, sau khi phạm tội, mặc dù được cho tại ngoại điều tra, nhưng bị cáo lại có hành vi bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, tuy tố xét xử của các cơ quan tư pháp. Điều đó thể hiện bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo là rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và mang tài sản đi tiêu thụ. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá ở tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo để xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo L thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đây là vụ án có tính chất đồng phạm, nên cần áp dụng quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án số 445/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Long phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ Luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L: 01 (Một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2018, nhưng được trừ đi thời gian bị giam giữ trước từ ngày 09/8/2018 đến ngày 18/8/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Tiến L, người bị hại, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:76/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về