Bản án 769/2017/HNGĐ-ST ngày 21/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 769/2017/HNGĐ-ST NGÀY 21/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1221/2016/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2017/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Đức T, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: 39 đường số A, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957 (vắng mặt) Địa chỉ: 9/58 đường số C, khu phố D, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khời kiện và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị X tự nguyện ký kết hôn năm 1995 đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hòa hợp, đến tháng 5/2005 thì mâu thuẫn phát sinh không hàn găn được, đến năm 2009 thì ông T không sống chung với bà X nữa cho đến nay. Ông T yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị X.

Về con chung: có 01 con chung tên là Vũ Đức Thiện, sinh năm 1995, hiện đã trưởng thành.

Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết. Nợ chung: không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị X đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa nhưng không đến Tòa án để cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:

1. Giấy đăng ký kết hôn;

2. Chứng minh nhân dân dân và hộ khẩu;

3. Giấy khai sinh;

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập gồm:

1. Công văn xác minh về trình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/01/2017;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập thì có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015. Bị đơn cư trú tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn Nguyễn Thị X đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại Tòa án không có lý do. Do vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Đức T và bà Nguyễn Thị X kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 281, quyển số 02/1994 ngày 02/12/1994, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của ông Vũ Đức T với bà Nguyễn Thị X, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù bà Nguyễn Thị X đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà Nguyễn Thị X vẫn không đến Tòa để cung cấp tài liệu chứng cứ phản bác lại yêu cầu của nguyên đơn, không thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập như đã liệt kê nêu trên, Hội đồng có cơ sở xác định giữa bà Nguyễn Thị X và ông Vũ Đức T phát sinh nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống, không thể hàn gắn được, vợ chồng đã không chung sống với nhau, không còn thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ cho nhau. Điều này chứng tỏ qua n hệ hôn nhân giữa ông T và bà X đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Vũ Đức T là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Vũ Đức Th, sinh năm 1995, hiện đã trưởng thành.

[3] Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu tòa giải quyết, còn bà X vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Ông T xác định không nợ, còn bà X vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), ông Vũ Đức T phải chịu theo quy định tại Pháp lệnh án phí và lê phí Tòa án.

Xét lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Pháp lệnh án phí Tòa án, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Đức T được ly hôn với bà Nguyễn Thị X.

2. Về con chung: Vũ Đức Th, sinh năm 1995, hiện đã trưởng thành 3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), ông Vũ Đức T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) do ông T nộp theo biên lai thu số 0014469 ngày 09/12/2016 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự  thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ông Vũ Đức T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị X vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ 


101
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 769/2017/HNGĐ-ST ngày 21/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:769/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về