Bản án 78/2017/HCPT ngày 28/03/2017 về đòi công nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 78/2017/HCPT NGÀY 28/03/2017 VỀ ĐÒI CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 28 tháng 3 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 65/2016/TLPT-HC ngày 11 tháng 8 năm 2016, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với bản án hành chính sơ thẩm số 05/2016/HCST ngày 20 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 601/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa:

* Người khởi kiện: Ông Cao Anh Thuấn, sinh năm 1942; trú tại: Thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người bị kiện:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức Chấn - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Thị; có mặt.

- Bà Hoàng Thị Duyên; có mặt.

- Anh Cao Anh Tuấn và chị Lê Nguyên Hương; vắng mặt.

Đều trú tại: Thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

NHẬN THẤY

* Ngày 09/01/2014, ông Cao Anh Thuấn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị xem xét việc Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm không công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 10,5 thước khu Ao Bầu - Ông Lủi cho gia đình; yêu cầu hủy Quyết định số 7553/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Quyết định số 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn với lý do:

Diện tích 10,5 thước khu Ao Bầu - Ông Lủi tại thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm trước đây là đất thổ canh có nguồn gốc của vợ chồng cụ Cao Huy Túc, cụ Đào Thị Bút (bố, mẹ ông Thuấn) để lại. Trước khi vào Hợp tác xã bố mẹ ông có 7.200m2 đất. Năm 1960, Hợp tác xã giao đất 5% cho các hộ gia đình, do gia đình ông chưa vào Hợp tác xã nên không được cấp. Năm 1964, Ban chủ nhiệm Hợp tác xã thôn Phú Thụy vận động, bố mẹ ông nhất trí vào Hợp tác xã và đã thỏa thuận với Ban chủ nhiệm Hợp tác xã là gia đình ông công hữu vào Hợp tác xã 4.188m2 đất, còn giữ lại 3.012m2 đất để sử dụng riêng gồm: 1 thửa 2 sào 10 thước ao; 1 sào 5 thước ở gần sông; 10,5 thước ở khu Ao Bầu - Ông Lủi và 3 sào 10 thước ở đồng Vừng Quán Danh). Hợp tác xã không phải cấp đất 5% cho gia đình ông. Sau khi thỏa thuận, gia đình ông mới viết đơn vào Hợp tác xã, việc thỏa thuận này không có văn bản. Gia đình ông sử dụng liên tục diện tích đất này từ trước đến nay để trồng lúa, trồng mầu sau đó trồng rau. Quá trình sử dụng gia đình ông đóng thuế đầy đủ nhưng không lưu giữ được giấy tờ. Năm 1982, bố ông chết, mẹ ông cho ông Cao Huy Việt làm 1 sào 5 thước ở đằng sông. Hiện nay thửa đất này do anh Nguyễn Quang Minh đang sử dụng. Sau khi bố, mẹ ông chết, ông và gia đình tiếp tục sử dụng 10,5 thước ở khu đất Ao Bầu - Ông Lủi.

Năm 1997, Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K500881 với diện tích 686m2 mang tên hộ gia đình bà Đào Thị Bút.

Năm 1999, gia đình ông đề nghị Ủy ban nhân dân xã Phú Thị cho chuyển mục đích sử dụng diện tích 10,5 thước đất thổ canh tại khu Ao Bầu - Ông Lủi thành đất thổ cư nhưng Ủy ban nhân dân xã Phú Thị không đồng ý.

Ông Cao Anh Thuấn đã khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị được công nhận quyền sử dụng đất với diện tích 10,5 thước đất khu đất Ao Bầu - Ông Lủi. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm có văn bản số 281/UBND-TNMT ngày 18/4/2011 trả lời nhưng ông không đồng ý nên Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm ban hành Quyết định 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông. Ông Thuấn tiếp tục khiếu nại đối với Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 7553/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 giải quyết khiếu nại.

Ngày 09/01/2014, ông Cao Anh Thuấn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Tòa án hủy Quyết định 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Quyết định 7553/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vì các quyết định này xâm phạm đến quyền lợi của gia đình ông.

* Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có quan điểm:

Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm nhận được đơn của ông Cao Anh Thuấn ở thôn Phú Thụy, xã Phú Thị có nội dung đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm xem xét giải quyết cho gia đình ông được sử dụng 10,5 thước khu đất Ao Bầu - Ông Lủi ven đường Ỷ Lan. Ngày 18/4/2011, Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm có văn bản 281/UBND-TNMT trả lời đơn không chấp nhận đề nghị của ông Cao Anh Thuấn. Không đồng ý với văn bản này, ông Thuấn có đơn khiếu nại. Thanh tra huyện Gia Lâm được Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm giao kiểm tra xác minh đơn của ông Cao Anh Thuấn. Ngày 15/02/2013, Thanh tra huyện Gia Lâm có kết luận số 05/KL-TTr nội dung đề nghị và khiếu nại của ông Thuấn không có cơ sở đồng thời kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện ra Quyết định giải quyết khiếu nại của ông Thuấn. Ngày 25/4/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm ban hành Quyết định 743/QĐ-CT về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn.

Ngày 28/5/2013, ông Cao Anh Thuấn có đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội không đồng ý với Quyết định 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm về giải quyết khiếu nại của gia đình ông và đề nghị công nhận quyền sử dụng 10,5 thước (tương đương 220m2) đất tại khu Ao Bầu - Ông Lủi ven đường Ỷ Lan cho gia đình ông. Căn cứ vào báo cáo và hồ sơ địa chính lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thị. Thanh tra thành phố Hà Nội đã có Kết luận 2330/KL-TTTP (P5) ngày 04/9/2013 thể hiện nội dung: Thanh tra thành phố thống nhất với Quyết định 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm về giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn.

Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Phú Thị và kết quả lấy ý kiến của Hội nghị Thanh tra thành phố thì năm 1959-1960 bố mẹ ông Thuấn đã đưa toàn bộ diện tích ruộng của gia đình ông Thuấn vào Hợp tác xã trong đó có cả 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi ven đường Ỷ Lan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ thì nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993. Kiểm tra tại bản đồ các năm 1974, 1986, 1993-1994 đều thể hiện 10,5 thước đất này đều là đất ao tập thể (ao công). Năm 1997, thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân xã đã thực hiện việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình  trong xã, gia đình ông Cao Anh Thuấn có cụ Đào Thị Bút (mẹ ông Thuấn) thuộc diện khẩu nông nghiệp. Tuy nhiên trong “Đơn xin giao đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp” và “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” của cụ Đào Thị Bút cũng không kê khai thửa đất nào thuộc khu Ao Bầu - Ông Lủi.

Trên cơ sở Kết luận số 2330/KL-TTTP (P5) ngày 04/9/2013 của Thanh tra thành phố Hà Nội. Ngày 13/12/2013, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 7553/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn, trong đó có nội dung “Đồng ý với Quyết định 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm về việc giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn liên quan đến việc công nhận quyền sử dụng đất tại khu Ao Bầu - Ông Lủi ven đường Ỷ Lan”.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh Thuấn là không có cơ sở, đại diện người bị kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Ủy ban nhân dân xã Phú Thị trình bày: Trên cơ sở hồ sơ địa chính, Biên bản làm việc ngày 10/3/2011 với Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Gia Lâm và Biên bản làm việc ngày 23/10/2012 với Thanh tra huyện Gia Lâm, ý kiến của Ủy ban nhân dân xã Phú Thị, các ông, bà nguyên và đang là cán bộ thôn Phú Thị thì nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng quản lý sử dụng đất diện tích khu đất Ao Bầu - Ông Lủi thôn Phú Thụy, xã Phú Thị như sau:

Khu đất Ao Bầu - Ông Lủi có nguồn gốc trước đây là đất thổ canh của gia đình cụ Cao Huy Túc, cụ Đào Thị Bút (là bố mẹ ông Cao Anh Thuấn). Năm 1959-1960, thực hiện chủ trương chung của nhà nước, bố mẹ ông Thuấn đã công hữu toàn bộ ruộng vào Hợp tác xã, trong đó có khu Ao Bầu - Ông Lủi (hồ sơ về việc này hiện xã không còn lưu giữ).

Các gia đình trong thôn khi vào Hợp tác xã thì công hữu hết ruộng đất, không hộ nào bớt lại một phần ruộng đất. Toàn bộ thôn Phú Thụy chỉ có 5 hộ gia đình không vào hợp tác xã nên chính quyền lúc đó đã chuyển số ruộng của 05 hộ gia đình ra khu vực Đồng Vưng, Quán Danh gần đường Quốc lộ 5. Sau khi công hữu đất vào hợp tác xã năm 1960, các hộ gia đình được hợp tác xã giao đất 5%, hợp tác xã Phú Thị đã giao đất 5% cho bố mẹ ông Thuấn tại chính khu Ao Bầu - Ông Lủi mà các cụ đã công hữu vào hợp tác xã (hiện Ủy ban nhân dân xã Phú Thị không lưu giữ được tài liệu).

Năm 1997, thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân xã Phú Thị đã tiến hành thống kê quỹ đất nông nghiệp, nhân hộ khẩu nông nghiệp, xác định các vị trí đất phải để lại làm quỹ công ích 5% do Ủy ban nhân dân xã quản lý, tổ chức thực hiện việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình trong xã. Trong các vị trí đất công ích có khu Ao Bầu - Ông Lủi mà trước đây hợp tác xã đã giao đất 5% cho bố mẹ ông Thuấn. Thời điểm giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, gia đình ông Thuấn chỉ có mẹ ông Thuấn là cụ Đào Thị Bút là nhân khẩu nông nghiệp nên thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp. Gia đình cụ Bút đã giao đất theo phương án của địa phương với tổng diện tích đất là 636m2 tại các xứ đồng: Thông Phán (318m2), Mã Chùa (36m2), Dộc Xác (37m2), Chăn Nuôi (209m2), Đồng Nối (36m2) và cụ Bút đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các xứ đồng trên. Việc giao đất thực hiện theo đúng quy định như tổ chức họp dân, thông báo quỹ đất và nhân khẩu, tiêu chuẩn giao đất. Khi đó, mẹ ông Thuấn còn sống và không có đơn thư khiếu nại.

Sau khi thực hiện giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân xã  Phú Thị đã giao diện tích đất công tại khu Ao Bầu - Ông Lủi cho các hộ dân thuê thầu, không có hợp đồng (thôn có thu tiền thuê thầu). Trong số các hộ dân thuê thầu có gia đình ông Cao Anh Thuấn. Thời gian từ năm 2003 trở lại đây, diện tích đất khu Ao Bầu - Ông Lủi thường xuyên bị ngập nên có năm được các hộ thuê thầu sử dụng, có năm không sử dụng. Diện tích đất này vẫn do Ủy ban nhân dân xã Phú Thị quản lý.

Về Hồ sơ địa chính khu đất Ao Bầu - Ông Lủi:

- Bản đồ năm 1974 hiện tại rách nát không sử dụng được, sổ lập kèm theo thể hiện khu đất Ao Bầu - Ông Lủi do Ủy ban nhân dân xã Phú Thị quản lý.

- Sổ lập theo chỉ thị 299/TTg và bản đồ đo vẽ năm 1986-1987: khu đất Ao Bầu - Ông Lủi thôn Phú Thụy (Phú Thị), xã Phú Thị là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 274, diện tích 8.857m2, bản đồ ghi là At2 thuộc tờ bản đồ thổ cư Phú Thụy (Phú Thị), xã Phú Thị.

- Bản đồ đo vẽ năm 1993-1994 và sổ lập kèm theo thể hiện khu đất Ao Bầu - Ông Lủi là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 8, diện tích 1.970m2, bản đồ ghi là CDK (chuyên dùng khác), thửa số 7, diện tích 2.278m2, bản đồ ghi là Ao cả hai thửa đất trên đều thuộc tờ bản đồ địa chính số 37, thôn Phú Thụy (Phú Thị), xã Phú Thị. Diện tích đất này Ủy ban nhân dân xã Phú Thị đang quản lý.

Do ông Cao Anh Thuấn và bà Hoàng Thị Duyên có đơn đề nghị xin đổ đất cải tạo để trồng cây tại khu vực Ao Bầu - Ông Lủi, Ủy ban nhân dân xã có văn bản trả lời không đồng ý với đề nghị của gia đình ông Thuấn và kết luận diện tích đất này không thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Thuấn, đây là đất công ích do Ủy ban nhân dân xã quản lý.

Bà Hoàng Thị Duyên thống nhất lời khai với ông Cao Anh Thuấn và đề nghị xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 10,5 thước khu đất Ao Bầu - Ông Lủi cho gia đình bà, yêu cầu hủy Quyết định số 7553/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Quyết định số 743/QĐ-UBND ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2016/HCST ngày 20/6/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ Điều 28, điểm a khoản 2 Điều 104; điểm a khoản 2 Điều 163; Điều 174; khoản 1 Điều 176 Luật tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 10; Điều 138 Luật đất đai; xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh Thuấn đề nghị hủy Quyết định số 7553/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Quyết định số 743/QĐ-UBND ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn đòi công nhận quyền sử dụng 10,5 thước khu đất Ao Bầu - Ông Lủi tại thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/6/2016, người khởi kiện là ông Cao Anh Thuấn kháng cáo cho rằng diện tích 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi là của gia đình ông không đưa vào Hợp tác xã.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Cao Anh Thuấn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; không xuất trình thêm chứng cứ mới và cho rằng Ủy ban nhân dân xã phải xuất trình được đơn xin gia nhập Hợp tác xã của mẹ ông để xác định gia đình ông đã đưa toàn bộ ruộng đất vào Hợp tác xã nếu không có chứng cứ này thì phải hủy các quyết định hành chính ông đã khởi kiện; người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ kiện; xin được vắng mặt và đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Ủy ban nhân dân xã Phú Thị giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện và xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa có quan điểm: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện đã chứng minh được diện tích thửa đất ông Thuấn đòi đang thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã Phú Thị; Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của cụ Bút không có diện tích đất này. Việc ông Thuấn sử dụng diện tích đất này là hành động tự phát, không được coi là chủ sử dụng đất; các quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội bị ông Thuấn khởi kiện được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, nội dung đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Cao Anh Thuấn. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Cao Anh Thuấn, giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; thẩm tra công khai tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; sau khi thảo luận và nghị án;

XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng:

Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các Quyết định hành chính số 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Quyết định hành chính số 7553/QĐ-CT ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn ở thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (Sau đây gọi tắt là Quyết định 743; Quyết định 7553). Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh Thuấn đề nghị hủy hai quyết định này, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30; Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung:

Xét tính hợp pháp đối với Quyết định 743; Quyết định 7553:

Về thẩm quyền ban hành quyết định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm ban hành Quyết định 743 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định 7553 là đúng thẩm quyền theo quy định tại Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003; Luật khiếu nại năm 2001; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật khiếu nại; khoản 1 Điều 43 Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

 Về trình tự thủ tục ban hành quyết định:

Đối với Quyết định 743: Sau khi ông Cao Anh Thuấn có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm công nhận quyền sử dụng 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Gia Lâm đã có Báo cáo số 87/BC-TN&MT báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh nội dung đề nghị của ông Thuấn. Ngày 18/4/2011, Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm có văn bản số 281/UBND-TNMT trả lời ông Thuấn việc ông đề nghị cho sử dụng 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi là không có cơ sở. Không đồng ý với văn bản này, ông Thuấn đã khiếu nại. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm giao Thanh tra, kiểm tra, xác minh và tham mưu giải quyết khiếu nại theo quy định. Thanh tra huyện Gia Lâm đã làm việc với Ủy ban nhân dân xã Phú Thị, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện để xác định nguồn gốc đất, hồ sơ địa chính, quá trình quản lý sử dụng thửa đất ông Thuấn khiếu nại. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm cũng đã tổ chức đối thoại với ông Cao Anh Thuấn. Ngày 15/2/2013, Thanh tra huyện Gia Lâm đã có Kết luận số 05/KL-TTr về việc kiểm tra, xác minh nội dung đơn khiếu nại của ông Thuấn kết luận: Văn bản số 281/UBND-TNMT ngày 18/4/2011 của Ủy ban nhân dân huyện xác định việc ông Cao Anh Thuấn đề nghị được công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 10,5 thước đất (đo hiện trạng theo chỉ dẫn mốc giới của ông Thuấn có diện tích 220m2) tại khu Ao Bầu - Ông Lủi ven đường Ỷ Lan là chưa đủ cơ sở để xem xét bởi hai lý do: Khu đất này do Ủy ban nhân dân xã quản lý; ông Thuấn không chứng minh được khu đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Bản kết luận này cũng kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định giải quyết khiếu nại của ông Thuấn theo hướng bác đơn khiếu nại.

Căn cứ vào Kết luận số 05/KL-TTr của Thanh tra huyện Gia Lâm về việc kiểm tra, xác minh nội dung đơn khiếu nại của ông Thuấn, Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm ban hành Quyết định 743 giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đối với Quyết định 7553: Sau khi ông Cao Anh Thuấn có đơn khiếu nại Quyết định 743, Thanh tra thành phố Hà Nội cũng đã tiến hành xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng 10,5 thước đất tại khu Ao Bầu - Ông Lủi, hồ sơ pháp lý của thửa đất, nghe báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Phú Thị, quá trình giải quyết của cơ quan Nhà nước đối với khiếu nại của ông Thuấn. Tại Kết luận số 2330/KL-TTTP(P5) ngày 04/9/2013, Thanh tra thành phố Hà Nội đã thống nhất quan điểm với Quyết định 743 cho rằng nội dung khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn là không đúng và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với ông Thuấn theo quy định của Luật khiếu nại. Căn cứ vào kết luận, kiến nghị của Thanh tra thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định 7553 là đúng trình tự, thủ tục.

Như vậy, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định hành chính số 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Quyết định hành chính số 7553/QĐ-CT ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nội về việc giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn đòi công nhận quyền sử dụng 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi tại thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là phù hợp với quy định của pháp luật.

 Về nội dung các quyết định:

Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Phú Thị thì nguồn gốc thửa đất 10,5 thước khu Ao Bầu - Ông Lủi là của bố, mẹ ông Thuấn (Cụ Cao Huy Túc và cụ Đào Thị Bút). Năm 1959-1960, cụ Túc, cụ Bút đã đưa toàn bộ diện tích đất của gia đình vào Hợp tác xã. Năm 1997, thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân xã Phú Thị đã tổ chức thực hiện việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình trong xã, gia đình ông Thuấn chỉ có cụ Đào Thị Bút thuộc diện khẩu nông nghiệp. Cụ Đào Thị Bút đã có "Đơn xin giao đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp” và “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” tại các thửa Thông Phán, Mã Chùa, Dộc Xác, Chăn Nuôi, Đồng Nối, không có thửa nào thuộc khu Ao Bầu - Ông Lủi có xác nhận ngày 20/9/1997 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Thị “Giao ổn định 20 năm, 5 thửa, diện tích 636m2”. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Đào Thị Bút, tổng diện tích 636m2 tại các xứ đồng Thông Phán (318m2), Mã Chùa (35m2), Dộc Xác (37m2), Chăn Nuôi (209m2), Đồng Nối (36m2).

Về quản lý sử dụng: Xã đã giao khu đất Ao Bầu - Ông Lủi cho thôn quản lý để cho các hộ thuê thầu. Việc thuê thầu không có hợp đồng, chỉ có sổ theo dõi danh sách các hộ nộp tiền. Trong các hộ thuê thầu, hộ ông Thuấn có thuê các năm 2000 là 36.000 đồng; năm 2002 là 20 kg thóc. Năm 2003, khu đất này bị ngập lụt nên ông Thuấn không sử dụng, bà Vui sử dụng. Số tiền thu được, thôn nộp vào ngân sách xã.

Hồ sơ địa chính của thửa đất: Bản đồ năm 1974 và sổ lập kèm theo thể hiện khu Ao Bầu - Ông Lủi là ao do tập thể quản lý, không thể hiện diện tích. Sổ lập theo Chỉ thị 299/Ttg và Bản đồ đo vẽ năm 1985-1986 khu Ao Bầu - Ông Lủi là một phần diện tích thuộc thửa 274, bản đồ thổ cư thôn Phú Thụy, diện tích 8.857m2 đăng ký trong sổ là ao, bản đồ ghi là At2 (theo báo cáo của xã là ao tập thể). Sổ dã ngoại và bản đồ đo vẽ năm 1993-1994 khu Ao Bầu - Ông Lủi là một phần diện tích thửa số 8, diện tích 1.970m2, bản đồ ghi CDK (theo báo cáo của xã là chuyên dùng khác) sổ ghi ao hợp tác xã và thửa số 7, diện tích 2.278m2, bản đồ ghi Ao, sổ ghi ao hợp tác xã. Cả hai thửa đất đều thuộc tờ bản đồ địa chính số 37, thôn Phú Thụy, xã Phú Thị. Diện tích đất này do Ủy ban nhân dân xã Phú Thị đang trực tiếp quản lý.

Trong đơn khiếu nại cũng như lời trình bày của ông Cao Anh Thuấn tại các buổi hòa giải, đối thoại với các cơ quan chức năng cũng như tại phiên tòa phúc thẩm này, ông Thuấn đều cho rằng diện tích 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi nguồn gốc là của gia đình ông. Khi bố mẹ ông vào hợp tác xã, diện tích đất này không đưa vào hợp tác xã và gia đình ông sử dụng đất từ đó đến nay. Ông Thuấn cũng không có giấy tờ gì chứng minh chủ sở hữu diện tích đất này theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Thuấn cho rằng nếu Ủy ban nhân dân xã Phú Thị không xuất trình được đơn xin gia nhập hợp tác xã của mẹ ông và chứng cứ chứng minh gia đình ông đã đưa toàn bộ số ruộng đất của gia đình vào hợp tác xã thì đề nghị Hội đồng xét xử hủy các quyết định hành chính ông đã khởi kiện.

Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại của ông Thuấn, Ủy ban nhân dân các cấp (xã, huyện, thành phố) đều xác định diện tích đất này đã được bố mẹ ông Thuấn đưa vào hợp tác xã và xã Phú Thị đã quản lý thửa đất này từ đó đến nay. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét, giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993. Như vậy, khiếu nại của ông Thuấn về việc công nhận quyền sử dụng diện tích 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi là không có cơ sở.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy Quyết định hành chính số 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm và Quyết định hành chính số 7553/QĐ-CT ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn đòi công nhận quyền sử dụng 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi tại thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định các quyết định hành chính bị khởi kiện được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung thể hiện đúng bản chất vụ việc để bác yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh Thuấn là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Cao Anh Thuấn kháng cáo cho rằng diện tích 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi là của gia đình mình nhưng không đưa ra được chúng cứ mới. Do đó, kháng cáo của ông Thuấn không được Hội đồng xét xử chấp nhận đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Cao Anh Thuấn phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Cao Anh Thuấn; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2016/HCST ngày 20/06/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 2 Điều 104; điểm a khoản 2 Điều 163; Điều 174; khoản 1 Điều 176 Luật tố tụng hành chính (năm 2011); khoản 2 Điều 10; Điều 138 Luật đất đai; khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí lệ phí tòa án; xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Cao Anh Thuấn đề nghị hủy Quyết định hành chính số 743/QĐ-CT ngày 25/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Quyết định hành chính số 7553/QĐ-CT ngày 13/12/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc giải quyết khiếu nại của ông Cao Anh Thuấn đòi công nhận quyền sử dụng 10,5 thước đất khu Ao Bầu - Ông Lủi tại thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

2. Ông Cao Anh Thuấn phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Xác nhận ông Cao Anh Thuấn đã nộp 200.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 09610 ngày 11/7/2006 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


148
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về