Bản án 78/2018/HS-ST ngày 03/04/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 78/2018/HS-ST NGÀY 03/04/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 03 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2018/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2018/HSST-QĐ ngày 06/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2018/HSST – QĐ ngày 16/03/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc T, sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 74/3/6C đường L, khu phố 4, phường 5, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn P, sinh năm 1949 và con bà Lý Kim E, sinh năm 1953 ; có vợ tên Đỗ Thị Thanh M, sinh năm 1975 và 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 26/10/2017 đến ngày 29/12/2017 được hủy bỏ biện pháp tạm giam, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1994; thường trú: Số 5 đường H, phường 11, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 9/2017 bị cáo Nguyễn Quốc T quen biết người tên Huy (không rõ nhân thân) là người mua bán xe mô tô, tháng 10/2017 Huy nói T “ bán xe mô tô không có giấy tờ, không biển số cho Huy mỗi xe Huy cho 500.000 đồng”. Khoảng 15 giờ ngày 26/10/2017, Huy sử dụng số điện thoại 0931.486.170 điện thoại cho T theo số 0169.3439.403 nói T “đến cầu vượt Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lấy xe mang bán” khi T đến Huy đưa T 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision (không có biển số), Huy nói T “mang xe đến ngã tư 550 , thị xã Dĩ An giao xe cho người có số điện thoại 0971.490.046 nhận số tiền 13.800.000 đồng” T điều khiển xe đến ngã tư – 550 địa bàn thị xã Dĩ An thì người mua xe điện thoại nói T mang xe đến quán Hải Phương địa chỉ khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ an, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, lúc này Công an phường Dĩ An đến kiểm tra hành chính đối với T, T không xuất trình được giấy tờ xe, tại Công an phường Dĩ An T khai nhận, biết xe mô tô do Huy đưa mang bán là xe do người khác phạm tội mà có nhưng T vẫn mang bán cho Huy để hưởng lợi 500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962 (xe không có biển số); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy j3 màu vàng có sim số 01693.439.403.

Qua điều tra xác định:

+ Xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962, xe có biển số 47G1-159.47 là tài sản của anh Nguyễn Tuấn V, vào đêm ngày 19 và rạng sáng ngày 20/10/2017 anh V để xe trong phòng ở trọ địa chỉ 110 đường T, phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị mất trộm.

Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 293/BB.ĐG ngày 03/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Dĩ An kết luận:

Xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962, xe có biển số 47G1-159.47 trị giá 25.000.000 đồng Công an thị xã Dĩ An chuyển xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962, xe có biển số 47G1-159.47 cho Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 07/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo T từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy j3; tịch thu tiêu hủy sim số điện thoại 01693.439.430

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình làm là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận biết xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962 (xe không có biển số) do người tên Huy đưa T bán là xe do phạm tội mà có nhưng bị cáo T vẫn giúp Huy bán xe để hưởng lợi 500.000 đồng.

Tại Điều 250 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Bộ luật HÌnh sự sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

Như vậy, hành vi trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Bản cáo trạng số 59/CT – VKS ngày 07/02/2018 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo T cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo T thực hiện là ít nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra ngoài việc góp phần xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tuấn V được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xét đến các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo có nghề nghiệp ổn định, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo và giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về vật chứng thu giữ:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh, số khung 5817GY017905, số máy jF66E0017962 (xe không có biển số), qua điều tra xác định xe trên là tài sản của anh Nguyễn Tuấn V bị chiếm đoạt vào đêm ngày 19 và rạng sáng ngày 20/10/2017 tại địa chỉ 110 đường T, phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an thị xã Dĩ An chuyển giao Công an quận Bình Thạnh giải quyết, xử lý theo thẩm quyền là đúng pháp luật.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy j3 màu vàng có sim số 01693.439.403 bị cáo T sử dụng liên lạc khi phạm tội, điện thoại cần tịch thu sung quỹ nhà nước, sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với người tên Huy (không rõ nhân thân), đưa xe mô cho bị cáo T mang bán, Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

[6] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo và việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 250, điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường 5, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ dung năm 2009. Điều 89, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Sim số 01693.439.403

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy j3 số IMEI 352700/07/957618/8. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/02/2018.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.


144
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về