Bản án 79/2018/HS-ST ngày 19/09/2018 về tội chống người thi hành công vụ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 79/2018/HS-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Cù Huy N, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn TC, xã KL, huyện NT, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Huy L và bà Nguyễn Thị H; vợ là Đỗ Thị L1 và có 02 con; tiền án:

01 tiền án. Bản án số 33/2014/HSST ngày 07 tháng 4 năm 2014 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ra tù ngày 27 tháng 4 năm 2017; tiền sự: Không; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Anh Bùi Quang P; vắng mặt. Anh Vũ Văn T; vắng mặt. Anh Phan Sỹ H; vắng mặt. Anh Bùi Công T1; vắng mặt.

Anh Lại Văn Ph; vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn Th; vắng mặt. Chị Lê Thị Mai L2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24 tháng 5 năm 2017, đồng chí Bùi Quang P là Cán bộ Trại giam NX- Bộ Công an được phân công trực cổng cơ quan tại Điểm sản xuất, lao động dạy nghề cho phạm nhân Trại giam NX (sau đây viết tắt là Điểm sản xuất Số 9) – Trại giam NX thuộc xã MG, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Nhiệm vụ của đồng chí Bùi Quang P là gác cổng, kiểm tra người và phương tiện ra vào cổng, kiểm tra giấy tờ và sổ thăm gặp phạm nhân. Khi làm nhiệm vụ, đồng chí Bùi Quang P mặc quân phục theo đúng quy định. Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 24 tháng 5 năm 2017, Cù Huy N điều khiển xe ô tô biển số 15A-275.57, màu trắng chở Vũ Văn T và Lê Thị Mai L2 đến để thăm gặp phạm nhân Vũ Văn Ph, khi đến cổng của Điểm sản xuất Số 9, đồng chí Bùi Quang P yêu cầu dừng xe, kiểm tra giấy tờ và hỏi “Các anh vào thăm ai”, Cù Huy N trả lời “Vào thăm anh em”, đồng chí Bùi Quang P lại hỏi “Thăm anh em là ai” thì Cù Huy N trả lời “Vào thăm Lợi”. Đồng chí Bùi Quang P yêu cầu Cù Huy N xuất trình chứng minh nhân dân và sổ thăm gặp phạm nhân nhưng Cù Huy N không có nên đồng chí Bùi Quang P không cho Cù Huy N vào. Sau đó Lê Thị Mai L2 xuất trình giấy chứng minh nhân dân của Lê Thị Mai L2 và sổ thăm gặp phạm nhân Vũ Văn Ph thì đồng chí Bùi Quang P cho cả ba người vào. 16 giờ 20 phút cùng ngày cả 03 người ra về, Vũ Văn T điều khiển xe chở Lê Thị Mai L2 đi trước, còn Cù Huy N đi bộ phía sau. Đồng chí Bùi Quang P ra hiệu cho xe dừng lại để kiểm tra thì phát hiện chỉ có Vũ Văn T và Lê Thị Mai L2. Vũ Văn T xuống xe, khoác vai đồng chí Bùi Quang P nói “Bọn tao vào thăm anh em, mày thích gây khó dễ không? Mày biết bọn tao là ai không”. Đồng chí Bùi Quang P gạt tay Vũ Văn T ra và đi vào phòng trực dùng điện thoại di động gọi cho đồng chí Phan Sỹ H là cán bộ trực trại và trinh sát báo cáo tình hình để giải quyết. Cùng lúc đó Cù Huy N đi tới khu vực cổng, dùng 02 tay đẩy vào ngực đồng chí Bùi Quang P làm cho đồng chí Bùi Quang P phải lùi lại. Cù Huy N chỉ tay vào đồng chí Bùi Quang P nói “Mày có phải là P không? Mày có biết tao là ai không” và dùng cả hai tay tát vào hai bên má của đồng chí Bùi Quang P. Cù Huy N định dùng chân đá đồng chí Bùi Quang P nhưng được mọi người can ngăn, đẩy Cù Huy N vào trong xe, sau đó Vũ Văn T chở Cù Huy N và Lê Thị Mai L2 ra khỏi Điểm sản xuất Số 9. Quá trình điều tra vụ án Cù Huy N bỏ trốn khỏi nơi cư trú đến ngày 16 thán 01 năm 2018 Cù Huy N ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Cáo trạng số 81/CT-VKSTN ngày 10 tháng 8 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Cù Huy N về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cù Huy N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Cù Huy N từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Ý kiến của bị cáo: Khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bị cáo đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về pháp luật áp dụng: Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội quy định trong trường hợp này được áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giải quyết.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi: Lời khai của người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, báo cáo sự việc, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cù Huy N đã có hành vi dùng vũ lực cản trở đồng chí Bùi Quang P là người có nhiệm vụ trực cổng cơ quan thực hiện nhiệm vụ. Với hành vi nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự trong quản lý hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cán bộ trực cổng cơ quan - Điểm sản xuất, lao động, dạy nghề cho phạm nhân Trại giam NX khi đang làm nhiệm vụ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, lời luận tội và đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc xử lý, xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đẩu thú là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt. Mặc dù bị cáo có bệnh án điều trị bệnh tâm thần, tuy nhiên Kết luận giám định số 110/KLGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018, Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Trước, trong khi gây án và tại thời điểm giám định bị can Cù Huy N không có bệnh tâm thần. Tại các thời điểm trên bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã thực hiện. Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nên thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

[4] Về các biện pháp tư pháp: Không có.

 [5] Trong vụ án này còn có Vũ Văn T có hành vi khoác vai đồng chí Bùi Quang P, có lời nói đe dọa đồng chí P, Hiện Vũ Văn T vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan công an tách ra để xử lý sau.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định củapháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 330; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban  thường vụ Quốc hội:

- Xử phạt bị cáo Cù Huy N (09) Chín tháng tù, về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Về án phí: Bị cáo Cù Huy N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về