Bản án 80/2017/DSST ngày 21/12/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 80/2017/DSST NGÀY 21/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN 

Trong ngày 21 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 120/2017/TLST-DS ngày 13/6/2017 về tranh chấp: “Hợp đồng mua bán”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2017/QĐST-DS ngày 06/11/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2017/QĐST-DS, ngày 30/11/2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Đặng Thị Kim C, sinh năm 1960 (tên thường gọi là Dì T).

Địa chỉ: Số A khu phố 1, phường M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang .

Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1957. (Có mặt).

Địa chỉ: 125/3 Lý Thường Kiệt, tổ 10, khu phố 8, phường 5, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, khu phố M, phường M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang .

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1961. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, khu phố M, phường M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2017, bà Đặng Thị Kim C trình bày:

Vào ngày 14/8/2016 bà Nguyễn Thị Kim D có mua lúa của bà C với số tiền 21.617.000đ, khi mua lúa bà D có trả trước cho bà C số tiền 3.000.000đ, còn nợ lại 18.617.000đ, bà D có làm biên nhận nợ và hứa với bà C là đến ngày 15/8/2016 sẽ trả số tiền còn nợ lại cho bà C. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà D trả số tiền nợ 18.617.000đ này nhưng bà D hứa hẹn nhiều lần mà không thực hiện. Bà có gửi đơn đến UBND phường M, thị xã C để yêu cầu giải quyết buộc bà D trả số tiền 18.617.000đ, ngày 27/8/2016 UBND phường M, thị xã C có đưa vụ kiện ra hòa giải thì ông Nguyễn Văn D là cha ruột bà D xác nhận bà D có nợ của bà C số tiền này và đồng ý trả thay cho bà D số tiền 18.617.000đ này nhưng xin trả dần mỗi tháng 5000.000đ, nhưng bà C không đồng ý.

Nay bà C yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim D phải trả cho bà số tiền nợ là 18.617.000đ, yêu cầu trả 1 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn D trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà C ông không có ý kiến gì, vì đây là việc làm ăn giữa con ông là D và C với bà C. Trong lần hòa giải ở UBND phường M thì ông có yêu cầu được trả dần nợ cho con ông nhưng bà C không đồng ý. Hiện nay ông đã già không còn tiền để trả nợ dùm con ông nữa nên ông không đồng ý trả. Trước đây ông có cho vợ chồng Duyên và Cẩm ở chung tại nhà ông là số B, khu phố M, phường M, thị xã C để làm ăn, nhưng hiện nay con ông không còn ở đây, đi đâu ông không biết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân theo đúng pháp luật tố tụng.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Dì T là tên thường gọi của bà C, bà D có mua lúa và nợ bà C số tiền 18.617.000đ, có làm biên nhận nợ. Phía bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các phiên hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà C. Đề nghị HĐXX xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Kim C, buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả cho bà C số tiền nợ mua lúa là 18.617.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Kim C, đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn D, xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Kim D, ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Thị Kim D, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự

Xét thấy, tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D là đại diện ủy quyền của bà Đặng Thị Kim C trình bày: bà Đặng Thị Kim C (tên thường gọi Dì T, tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D có nộp giấy xác nhận của địa phương xác định tên thường gọi ở nhà của bà C là Dì T) đã tự nguyện xác lập hợp đồng mua bán lúa ngày 14/8/2016 với bà Nguyễn Thị Kim D. Vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim D có mua lúa của bà C 4.551 kg lúa với số tiền 21.617.000đ, bà D có lập biên nhận nợ bà C số tiền này và hẹn ngày 10/5/2016 và 20/5/2016 sẽ trả, nhưng sau đó đến ngày 11/6 và 28/6/2016 bà D có trả bà C được 3.000.000đ (ngày 11/6/2016 trả 1.000.000đ, ngày 28/6/2016 trả 2.000.000đ) từ đó đến nay bà C đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà D không trả. Quá trình thực hiện việc mua bán lúa phía bà C đã giao lúa cho bà D nhưng bà D đến nay vẫn chưa thanh toán cho bà C số tiền còn nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó bà C khởi kiện yêu cầu bà D phải có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền nợ là 18.617.000đ, yêu cầu trả 1 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại biên bản hòa giải ngày 27/8/2016 của Tổ hòa giải khu phố 1, UBND phường 1 ông có ý kiến “Tôi là người trả nợ thay cho con tôi, nên tôi xin trả mỗi tháng 500.000 đồng”. Nhưng tại bản tự khai của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy ông có ý k iến là không đồng còn tiền để trả nợ dùm con nữa nên không đồng ý trả.

Bị đơn Nguyễn Thị Kim D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trong đó nêu rõ yêu cầu khởi kiện của bà C nhưng bà D không có ý kiến phản đối và không đến dự hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa; như vậy bà D đã mặc nhiên thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn Đặng Thị Kim C và đây cũng là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà C và bà D có giao dịch hợp đồng mua bán lúa và bà D có lập biên nhận nợ bà C số tiền 18.617.000đ, hẹn đến ngày 20/5/2016 sẽ trả nhưng đến nay vẫn chưa trả cho bà C là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà C, nên HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị Kim C, buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả cho bà Đặng Thị Kim C số tiền 18.617.000đ.

Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bà Nguyễn Thị Kim D phải chịu phải chịu án phí theo quy định pháp luật là 930.850đ

Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy là phù hợp với nhận định của HĐXX và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng Khoản 2 Điều 357, Điều 430 và 440 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Xử  : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Kim C (tên thường gọi là Dì T).

Buộc bà Nguyễn Thị Kim D trả cho bà Đặng Thị Kim C (Dì T) số tiền 18.617.000 đồng (Mười tám triệu sáu trăm mười bảy ngàn đồng).

Kể từ ngày bà Đặng Thị Kim C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Kim D chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim D phải nộp 930.850 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Đặng Thị Kim C số tiền 465.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000861 ngày 09/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Bà Đặng Thị Kim C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


132
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2017/DSST ngày 21/12/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán

Số hiệu:80/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về