Bản án 80/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 80/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2017/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/HSST-QĐXX ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991 tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; bố đẻ: Ông Nguyễn Văn P (đã chết); mẹ đẻ: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Quyết định số 196/QĐ/XPVPHC ngày 31/8/2013 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn Q bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị tạm giữ từ ngày 26/6/2017 đến ngày 29/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Quỳnh Phụ. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 26/6/2017 tại khu vực thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Quỳnh Phụ đã phát hiện Nguyễn Văn Q đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm về ma tuý nên đã yêu cầu Q về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Q để điều tra làm rõ. Tại đây, trước sự chứng kiến của những người làm chứng, tiến hành kiểm tra người Q thu tại lòng bàn tay phải 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy trắng có chữ in màu đen, bên trong cùng là chất bột màu trắng dạng cục. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong và quản lý vật chứng.

Nguyễn Văn Q khai nhận: Do nghiện ma tuý nên khoảng 17 giờ ngày 26/6/2017, Nguyễn Văn Q đi nhờ xe của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ từ khu vực nơi ở đến khu vực thôn D, xã A huyện Q, tỉnh Thái Bình thì xuống xe mục đích để mua ma tuý sử dụng. Tại đây, Q đi bộ vào một ngõ nhỏ thì gặp một người đàn ông khoản 60 tuổi không quen biết. Người đàn ông này hỏi Q “mua gì?”, Q nói „Chú có hàng không để cho cháu 01 gói 100.000 đồng”, người đàn ông này hiểu ý Q muốn mua ma tuý nên gật đầu. Q đưa cho người đàn ông này 100.000 đồng và nhận 01 gói ma tuý từ người đàn ông đó. Q cầm gói ma tuý ở bàn tay phải và đi bộ tìm chỗ sử dụng thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Q là ma tuý, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3723 gam.

Bản cáo trạng số 77/KSĐT ngày 07 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn Q. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; các Điều  33, 45 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ vật chứng gồm 01 phong bì niêm phong có chứa chất ma tuý hoàn lại sau giám định

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào khoảng 18 giờ ngày 26/6/2017 và bị bắt quả tang với số lượng 01 gói ma tuý là Hêrôin có trọng lượng 0,3723 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Quỳnh Phụ lập ngày 26/6/2017, biên bản niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 282/KLGĐ-PC54 ngày 27/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của người làm chứng và toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” vào năm 2013 nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội, đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Chính vì vậy, cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.

Đánh giá việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo, thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thì cần áp dụng theo khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo, cho bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản . Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý bị cáo có, do không xác định được người đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,3723 gam, sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn mẫu vật giám định trong 01 phong bì niêm phong ghi số 282/KLGĐ-PC54 ngày 27/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, các Điều 45, 33 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự,

Tuyên tịch thu để tiêu huỷ vật chứng là Hêrôin đã thu giữ được niêm phong trong 01 phong bì hoàn mẫu vật ghi số 282/KLGĐ- PC54 ngày 27/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình gồm: 0,3665 gam mẫu gửi giám định và bao gói.

Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 07/9/2017

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


98
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về