Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 12/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 80/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Tấn Công, xã Tân Bằng, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1979 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Tấn Công, xã Tân Bằng, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Bà Lê Thị T trình bày:

Về H nhân: Bà T và ông H tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐH B, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/11/2004. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn về kinh tế gia đình, bà T và ông H đã ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà T và ông H có 02 người con chung là Nguyễn Triệu V, sinh ngày 06/12/2005 (giới tính nữ) và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 19/012014 (giới tính nữ), cháu Triệu V do ông H đang nuôi dạy, cháu Khánh V do bà T đang nuôi dạy. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu Khánh V, bà tự nguyện để cho ông H nuôi dạy cháu Triệu V, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét.

* Ông Nguyễn Hoàng H trình bày tại bản tự khai ngày 08/7/2019:

Về hôn nhân: Ông H thống nhất ly hôn với bà Lê Thị T.

Con chung: Ông và bà T có 02 người con chung là Nguyễn Triệu V, sinh ngày 06/12/2005 (giới tính nữ) và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 19/012014 (giới tính nữ). Khi ly hôn, tùy theo nguyện vọng các con chung, ông H không có yêu cầu gì khác.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng các quy định của tố tụng dân sự; về nội dung vụ án thì các yêu cầu của bà T là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Hoàng H. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông H có nơi cư trú tại ấp TC, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho ông H nhưng ông H không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của bà T và vắng mặt không có lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử, có triệu tập xét xử hợp lệ, ngày 08/7/2019 ông H có nộp bản tự khai và xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐHB, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/11/2004. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, bà T cho rằng thời gian chung sống giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, về kinh tế gia đình, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay nên bà T yêu cầu ly hôn với ông H. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa bà T và ông H không đạt được, ông bà đã được gia đình hòa giải đoàn tụ nhưng không thành, bà T và ông H đã ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà T và ông H có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông H vắng mặt phiên hòa giải, ngày 08/7/2019 ông H có nộp bản tự khai với nội dung ông H thống nhất ly hôn với bà T và xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên công nhận cho bà T và ông H thuận tình ly H là phù hợp.

[4] Về con chung: Bà T và ông H có 02 người con chung tên Nguyễn Triệu V, sinh ngày 16/12/2005 (giới tính nữ) và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 19/01/2014 (giới tính nữ), hiện bà T đang nuôi dạy cháu Khánh V, ông H đang nuôi dạy cháu Triệu V. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu Khánh V, bà tự nguyện để ông H nuôi dạy cháu Triệu V. Xét thấy cháu Khánh V là nữ, hiện đang sống chung với bà T, cháu Triệu V đã trên 09 tuổi, quá trình giải quyết cháu Triệu V có nguyện vọng sống với cha là ông H, tại bản tự khai ông H thống nhất với ý kiến của bà T về con chung nên chấp nhận yêu cầu của bà T là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Bà T, ông H không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Bà T xác định không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại đơn xác nhận ngày 07/5/2019 của Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận vợ chồng bà T và ông H không có ai yêu cầu về nợ đối tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 55, Điều 81, 82, 83 của luật hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hoàng H.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

2.1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hoàng H thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 16/12/2005 (giới tính nữ) cho ông H tiếp tục nuôi dạy; Giao cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 19/01/2014 (giới tính nữ) cho bà T tiếp tục nuôi dạy, bà T và ông H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Bà T, ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 07 tháng 5 năm 2019 bà T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006130 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 12/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:80/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về