Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 80/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 113/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019, về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2019; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 04/2019/TB-TA ngày 02/7/2019 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh ngày 27/5/1991.

Nơi ĐKHKTT: Đội 2, Phú T, Thạch Kh, Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Đàm Văn H, sinh ngày 17/6/1986.

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Đội 2, Phú T, Thạch Kh, Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.

(Chị A có đơn xin xử vắng mặt, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bầy: Chị và anh Đàm Văn H được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn được 2 bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Kh (nay là UBND phường Thạch Kh) vào ngày 12/7/2012. Sau ngày cưới vợ chồng sống nhờ ở nhà bác chồng cùng với bố mẹ chồng tại thôn Phú T, đội 2, phường Thạch Kh, thành phố Hải Dương. Vợ chồng sinh sống hạnh phúc được 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh H thường xuyên cờ bạc, quan hệ phức tạp, không quan tâm gì đến chị. Thời gian đó chị mang thai 7 tháng, anh H đã bỏ đi lên Hà Nội và chị được biết anh H có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị đã điện thoại cho anh H rất nhiều lần để khuyên giải và tha thứ cho anh H nhưng anh H cũng không quay về sống với chị. Đến tháng 11/2013 chị sinh con nhưng anh H cũng không quan tâm đến chị và con. Sau khi sinh con được 1 tháng chị xin phép bố mẹ chồng về nhà mẹ đẻ ở, chị vẫn có liên lạc với anh H nhưng anh H cũng không quan tâm và sau đó anh H thấy chị gọi nhiều đã chặn số điện thoại liên lạc của chị. Khi con được hơn 1 năm thì chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến cuối năm 2018 chị về nước. Khi về nước chị có đến nhà bố mẹ chồng để thăm hỏi nhưng không gặp anh H, chị có nói chuyện với bố mẹ anh H thì được biết hiện nay anh H đang sinh sống và làm việc bên Nhật Bản. Chị có xin địa chỉ và số điện thoại của anh H để liên lạc nhưng bố mẹ anh H chỉ cho số điện thoại, không cho địa chỉ của anh H. Khi biết được số điện thoại của anh H chị có gọi điện cho anh H nhưng anh H cũng chặn số điện thoại của chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đàm Văn H.

+ Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung là Đàm Văn Quang H1, sinh ngày 12/11/2013. Hiện nay cháu H1 đang sống cùng với chị. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con Đàm Văn Quang H1 và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với chị.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc, chị A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, chị A không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Nhật bản. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã về xác minh tại gia đình anh H, gia đình xác nhận anh H vẫn thỉnh thoảng liên lạc về nhà. Tòa án yêu cầu gia đình cung cấp địa chị của anh H ở Nhật bản và yêu cầu anh H gửi văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, nhưng gia đình không cung cấp được địa chỉ của anh H, anh H cũng không có văn bản gửi về. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho ông Đàm Hữu S là bố đẻ của anh H, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông S xác định đã thông tin cho anh H biết, anh H có quan điểm nhất trí ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định thẩm quyền: Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử và việc tuân thu thập tài liệu, chứng cứ: Thẩm phán và HĐXX chấp hành chưa đúng quy định tại Điều 476 – BLTTDS.

Trong vụ án chị A không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Nhật Bản. Vì vậy, đề nghị HĐXX cần tiếp tục yêu cầu chị A cung cấp địa chỉ của anh H đến khi kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử.

- Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.

- Nguyên đơn: chấp hành quy định của BLTTDS.

- Bị đơn: Không chấp hành quy định của của BLTTDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị A không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Nhật Bản. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án đã hai lần yêu cầu gia đình anh H cung cấp địa chỉ, cũng như thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh H biết để gửi lời khai về cho Tòa án, nhưng gia đình không cung cấp được và không thực hiện yêu cầu của Tòa án, đồng thời Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Nên áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh H.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Đàm Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạch Kh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào ngày 12/7/2012, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, anh H bỏ đi làm tại Hà Nội, chị A sinh con anh H cũng không về. Năm 2014 chị A đi lao động tại Đài Loan đến năm 2018 về nước. Năm 2018, anh H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Sau khi chị A về nước cũng đã chủ động tìm anh H để tháo gỡ mâu thuẫn nhưng anh H không nói chuyện với chị A mà chặn số điện thoại của chị. Thời gian chị A ở Đài Loan anh H cũng muốn làm đơn ly hôn, sau đó lại thôi nay chị A làm đơn ly hôn anh H cũng có thông tin về đồng ý ly hôn với chị A. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. Về phía anh H cũng đã được gia đình cho biết Tòa án đang giải quyết ly hôn theo đơn xin ly hôn của chị A. Anh H cũng có quan điểm đồng ý ly hôn và đồng ý để chị A nuôi con. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đàm Văn Quang H1 sinh ngày 12/11/2013 hiện đang sống cùng chị A. Chị A có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng. Anh H cũng nhất trí với quan điểm của chị A. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con của chị A. Chấp nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Đàm Văn H.

2. Về con chung: Giao con Đàm Văn Quang H1, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Nguyễn Thị A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, chị A tự nguyện không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền nuôi con chung với chị.

Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0007366 ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Nguyễn Thị A đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Anh Đàm Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:80/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về