Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 22/05/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

BẢN ÁN 80/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019. Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Lâm Thị H - Sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn 5, xã L, huyện B, tỉnh L.

+ Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ - Sinh năm 1987

Địa chỉ: Khu phố 9, thị trấn Q, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa vắng mặt chị Hà và anh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn lập ngày 20/02/2019 cũng như lời khai của chị Lâm Thị H trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn Đ vào tháng 4/2017, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh L. Sau khi kết hôn chị và anh Đ chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau, anh Đ hay ghen tuông nên vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Từ tháng 8/2017 đến nay chị và anh Đ đã sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn nên chị xin được ly hôn anh Vũ Văn Đ. Về con chung giữa chị và anh Vũ Văn Đ không có con chung nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung. Về tài sản chung giữa chị và anh Vũ Văn Đ thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều công việc bận chị không tham gia phiên tòa được nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Tại phiên toà anh Vũ Văn Đ vắng mặt nhưng có lời khai của bà Trần Thị L là mẹ đẻ của anh Vũ Văn Đ trong quá trình giải quyết trình bày: Gia đình bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện N giao cho anh Vũ Văn Đ và gia đình bà đã giao lại đầy đủ cho anh Đ. Do công việc bận nên anh Đ không đến Tòa án để giải quyết vụ án được và anh Đ có ý kiến với bà để bà đề nghị với Tòa án là anh Đ không nhất trí ly hôn chị H vì là gia đình công giáo và anh Đ mong muốn chị H suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ. Về con chung giữa anh Đ và chị H không có con chung. Về tài sản chung thì anh Đ không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nân dân huyện N tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà, Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Lâm Thị H và anh Vũ Văn Đ. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị tuyên chị H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Vũ Văn Đ cư trú tại huyện N, tỉnh N, chị Lâm Thị H cư trú tại xã L, huyện B, tỉnh L. Nay chị Lâm Thị H có đơn xin ly hôn anh Đ và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa chị H và anh Đ vắng mặt, nhưng chị Hà có đơn xin xét xử vắng mặt, phía anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai, vì vậy Tòa án nhân dân huyện N xét xử vắng mặt chị H và anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Lâm Thị H và anh Vũ Văn Đ được tổ chức kết hôn vào tháng 4/2017, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh L là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị H và anh Đ chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau nên vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Từ tháng 8/2017 đến nay chị Hà và anh Đ sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H xin ly hôn anh Đ nên chấp nhận là phù hợp. Xét việc anh Đ không nhất trí ly hôn chị H với lý do tôn giáo thấy không có cơ sở nên yêu cầu của anh Đ không được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Lâm Thị H và anh Vũ Văn Đ không có con chung và không có yêu cầu giải quyết về con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Lâm Thị H và anh Vũ Văn Đ không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Lâm Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 6; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Lâm Thị H và anh Vũ Văn Đ.

2- Về án phí dân sự sơ thẩm chị Lâm Thị H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Lâm Thị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: BB/2012/06143 ngày 25/02/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng. Chị Lâm Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị H và anh Đ. Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 22/05/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:80/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về