Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 80/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1987 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);

HKTT: Ấp T, xã N, huyện V, tỉnh T.

Chổ ở hiện nay: Số 43/2F, đường P, ấp L, xã B, huyện M, Thành phố H.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm: 1982 (vắng mặt);

Đa chỉ cư trú: ấp T, xã N, huyện V, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 04-3-2019 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C do tự quen biết và được sự đồng ý của 02 bên gia đình rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã A, huyện O, tỉnh Đ vào ngày 05-11-2008.

Sau ngày cưới anh, chị sống chung với gia đình cha, mẹ của anh C tại ấp T, xã N, vài tháng sau thì anh, chị lên Thành phố H để sống tự lập riêng. Thời gian đầu anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi với nhau, tính tình không còn phù hợp nhau. Chị T và anh C đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay.

Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng không thể kéo dài nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Ánh D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2013. Sau khi ly hôn chị T đồng ý để cả 02 cháu D và N cho anh C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị T không cấp dưỡng nuôi 02 cháu D và N.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ phải thu, phải trả: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Xuân C đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án nên không có lời trình bày.

* Tại bản khai ý kiến ngày 18 tháng 4 năm 2019 thì cháu D có nguyện vọng muốn sống chung với anh C.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long có ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp pháp luật. Bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

ớng giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 147, 227, 228, 262 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ánh D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2018 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2013. Cháu D có nguyện vọng muốn sống chung với anh C. Hai cháu D và N hiện đang sống tốt với anh C. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao 02 cháu D và N cho anh C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi 02 cháu D và N.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không có yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

* Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

- Nguyên đơn đã nộp: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai sinh (bản sao).

- Bị đơn đã nộp: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn giữa chị và anh C. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

- Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa xét xử sở thẩm hợp lệ lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Chị T có đơn xin vắng mặt không tham dự phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị T và bị đơn anh C.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C do quen biết rồi đi đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân nhân dân xã An Bình A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 05 tháng 11 năm 2008 nên hôn nhân giữa anh, chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi kết hôn chị Tuyền và anh C chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyễn nhân do anh chị bất đồng quan điểm, thường hay cự cải với nhau, tính tình không còn phù hợp nhau và anh chị đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay.

Tại biên bản xác minh ngày 19 tháng 4 năm 2019 thì bà Hồ Thị Mai là mẹ ruột của anh C xác nhận giữa chị T và anh C xảy ra mâu thuẫn gì hay không thì bà không biết nhưng anh C có nói với bà là anh và chị T đã không còn sống chung với nhau cách đây khoảng 05 đến 06 năm.

Xét thấy, chị T và anh C đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, anh chị đã sống ly thân trong thời gian dài mà không thể hàn gắn đoàn tụ, đã cho thấy tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ánh D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2013. Cháu D có nguyện vọng muốn sống chung với anh C. Bà Hồ Thị Mai là mẹ của anh C cũng xác nhận 02 cháu D và N hiện đang sống chung với bà và anh C và đang phát triển rất tốt. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường cho cháu D và cháu N cần tiếp tục giao cháu D và cháu N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Anh C vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nên chị T không phải cấp dưỡng cháu D và cháu N.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

* Tuyên xử: Chp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.

- Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Thị Ánh D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 13 tháng 6 năm 2013 cho anh Nguyễn Xuân C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Lê Thị T không phải cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Thị Ánh D và Nguyễn Minh N.

Ngöôøi khoâng tröïc tieáp nuoâi con coù quyeàn, nghĩa vụ thaêm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Xuân C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Xuân C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc chị Lê Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009630 ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Vũng Liêm. Chị Lê Thị T đã nộp đủ không phải nộp thêm.

Anh Nguyễn Xuân C không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:80/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũng Liêm - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về