Bản án 80/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY - TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 80/HNGĐ-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2018 về Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69 ngày 19 tháng 10 năm 2018 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 54a ngày 06 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1986 (Xin xử vắng mặt) Trú tại: thôn N, xã T.S, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1984 (Vắng mặt lần 2) Trú tại: thôn N, xã T.S, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau vào ngày 27/5/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.S, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm ăn tại địa phương. Do tính tình không hợp, mặt khác anh T không tu chí làm ăn, không quan tâm gì đến gia đình nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và sinh sống, vợ chồng sống ly thân hơn một năm nay không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, có chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị P xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2016 và Nguyễn Nhã U, sinh ngày 17/6/2017. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh Triệu phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Đình T không đến làm việc, bố đẻ của anh T là ông Nguyễn Văn B xác nhận anh T đã biết Tòa án giải quyết vụ án, nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do anh đi làm ăn không đến Tòa án làm việc và anh cũng không có ý kiến gì.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử và nghị án đều đúng quy định của pháp luật, việc bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

Về con chung : Giao 02 con chung là Nguyễn Anh T và Nguyễn Nhã U cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung : Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu trên, không thay đổi bổ sung gì. Còn bị đơn là anh Nguyễn Đình T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt không đến tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của ông Nguyễn Văn B ( là bố đẻ anh T) và biên bản xác minh tại chính quyền địa phương có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2, chị P có đơn xin xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử c ăn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.anh T và chị P.

Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Đình T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Nhưng khi về chung sống với nhau mới được một thời gian rất ngắn đã phát sinh mâu thuẫn nên khi chung sống cùng nhau đã không có tiếng nói chung và nhanh chóng không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế chị P và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P.

[2]. Về con chung: Chị P và anh T có 02 chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2016 và Nguyễn Nhã U, sinh ngày 17/6/2017. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị, chị đề nghị được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Xét yêu cầu của chị P là chính đáng, mặt khác cả hai con chung chưa đủ 03 tuổi và đang ở với chị. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện nên cần chấp nhận; vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yên cầu.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung : Do đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 về Án phí, Lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Đình T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2016 và Nguyễn Nhã U, sinh ngày 17/6/2017 cho chị Phượng trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; anh T có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản; vấn đề thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai số 0001503 ngày 17/7/2018 tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, chị P đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo bản án : Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Đình T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã T.S, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 80/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:80/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về