Bản án 81/2017/HSST ngày 25/09/2017 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 81/2017/HSST NGÀY 25/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2017/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Vĩnh T, sinh năm 1984.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ văn hóa: 8/12;

Con ông Phạm Vĩnh C và bà Đoàn Thị N.

Vợ: Nguyễn Thị H, có 02 con, lớn 8 tuổi nhỏ 6 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tam giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải

Dương từ ngày 02/8/2017 đến nay, có mặt.

- Người bị hại: Ông Bùi Bá T, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Số A, đường Nhữ Đình H, phường Tân B, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Ông T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Phạm Vĩnh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trưa ngày 30/12/2016, Phạm Vĩnh T điều khiển xe mô tô (Không rõ BKS) đến nhà bạn ở xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương để uống rượu. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô về nhà mình ở thôn H, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương, khi đến khu vực cổng đền Quát thuộc thôn H, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương, T nhìn thấy chiếc xe ô tô hiệu Toyota Cam ry màu đen, BKS 34A- 095-68 của ông Bùi Bá T đang dừng đỗ ở bên lề đường. Do uống rượu say, không làm chủ được bản thân nên T cho rằng chiếc xe này là của người đã có mâu thuẫn với T từ trước, vì vậy T nảy sinh ý định đập phá chiếc xe ô tô này để trả thù. Thực hiện ý định của mình, T dừng xe máy rồi nhặt hai viên gạch ở đống gạch gần đó và đi đến vị trí chiếc xe ô tô đang đỗ, T dùng tay phải cầm một viên gạch ném thẳng vào phần kính sau của xe làm kính bị vỡ rồi ném một viên gạch nữa vào phần kính phía trước của xe, T tiếp tục nhặt thêm ba viên gạch nữa ném thẳng vào thân xe ô tô. Sau đó T trèo lên nóc xe ô tô và dùng chân giẫm đạp vào thân xe ô tô, khi đó ông Trần Đức H là người cùng thôn với T đã phát hiện và thông báo cho ông Bùi Đức T, nhận được thông tin, ông T đã cùng một số người dân đến can ngăn nên T đã dừng lại và điều khiển xe máy bỏ về. Hậu quả chiếc xe ô tô hiệu Toyota Cam ry màu đen, BKS 34A-095-68 của ông Bùi Bá T bị hư hỏng một số bộ phận: Vỡ kính chắn gió trước, vỡ kính hậu, vỡ gương chiếu hậu, vỡ cụm đèn hậu, nhiều vị trí khác trên phần thân xe bị trầy xước sơn và bị móp méo.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 04/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Gia Lộc kết luận: Trị giá phần tài sản bị hư hỏng của chiếc xe ô tô BKS 34A-095-68 là 62.315.000đồng (Sáu mươi hai triệu, ba trăm mười lăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 82/VKS-HS ngày 31/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Vĩnh T về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Vĩnh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người bị hại ông Bùi Bá T yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại đối với chiếc xe ô tô theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản là 62.315.000đồng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 143, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản 1 các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Phạm Vĩnh T phải bồi thường thiệt hại cho ông Bùi Bá Tú số tiền 62.315.000đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 05 viên gạch đất nung bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Vĩnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 30/12/2016, tại khu vực cổng đền Quát thuộc thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, bị cáo Phạm Vĩnh T đã có hành vi dùng tay cầm lần lượt 05 viên gạch (Loại gạch đỏ đất nung có 02 lỗ) ném, đập phá chiếc xe ô tô nhãn hiệu hiệu Toyota Cam ry màu đen, BKS 34A- 095-68 của ông Bùi Bá T. Hậu quả làm chiếc xe của ông T bị vỡ kính chắn gió trước, vỡ kính hậu, vỡ gương chiếu hậu, vỡ cụm đèn hậu, nhiều vị trí khác trên phần thân xe bị trầy xước sơn và bị móp méo, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 62.315.000đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi cố ý làm hư hỏng, làm mất đi giá trị sử dụng đối với tài sản của người bị hại là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tài sản bị cáo làm hư hỏng thiệt hại trị giá 62.315.000 đồng được xác định là tài sản có giá trị nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 143 của Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời là bài học phòng ngừa chung.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của bộ luật hình sự, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thì thấy: Tuy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng là đối tượng đã sử dụng ma túy từ nhiều năm nay và thường xuyên gây rối tại địa phương, sau khi phạm tội bị cáo cũng không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Do vậy cần xử nghiêm bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung có hiệu quả.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếc xe ô tô nhãn hiệu hiệu Toyota Cam ry màu đen, BKS 34A-095-68 của ông Bùi Bá T do bị cáo Phạm Vĩnh T làm hư hỏng thiệt hại trị giá 62.315.000đồng. Lời khai của ông Tú trong quá trình điều tra cũng như trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Tú số tiền trên là phù hợp pháp luật.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 05 viên gạch đất nung, bị cáo T đã sử dụng để đập phá chiếc xe ô tô của ông T, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải bồi thường nên còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vĩnh T phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 143, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Vĩnh T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2017.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản 1 các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357 của Bộ luật dân sự. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Phạm Vĩnh T phải bồi thường cho ông Bùi Bá T. Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, thiệt hại chiếc xe ô tô với số tiền 62.315.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, ba trăm mười lăm nghìn đồng)

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Bùi Bá T có đơn đề nghị thi hành án về khoản tiền trên, nếu bị cáo không thì hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 05 viên gạch đất nung (Đặc điểm được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Vĩnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 3.115.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 81/2017/HSST ngày 25/09/2017 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Số hiệu:81/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lộc - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về