Bản án 812/2017/HS-PT ngày 23/11/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 812/2017/HS-PT NGÀY 23/11/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2017/TLHS-PT ngày 17-02-2017 đối với bị cáo Đinh Văn S bị xét xử sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HSST ngày 10/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo có kháng cáo: Đinh Văn S (tên gọi khác: Không), sinh năm 1976; ĐKNKTT và chỗ ở tại xóm P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 4/12; con ông Đinh Công T (đã chết) và bà Hà Thị T1; có vợ là Bùi Thị V; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2007); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 09-8-2016 cho đến nay; có mặt.

Tiền án: Bản án số 70/2009/HSST ngày 09-9-2009, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đinh Văn S 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại tháng 05/2015 (BL 57).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đức V - Văn phòng luật sư T, Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nội dung tài liệu có trong hồ sơ và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ ngày 09/8/2016, tại khu vực cầu H (thuộc xóm P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Nguyên), qua kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L9-2306 do Đinh Văn S dừng ở ven đường, Công an đã phát hiện lập biên bản thu giữ trong túi quần bên phải của S 01 bánh chất bột màu trắng được gói trong túi nilon màu xanh kích thước (15cm X 10cm X 2,5cm), nghi là Heroin (niêm phong ký hiệu Q); trong túi quần bên trái có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; trong túi áo bên trái 01 gói giấy bên trong có nhiều cục dạng chất bột màu trắng, nghi là Heroin (niêm phong ký hiệu T); 01 chiếc xi lanh nhựa loại 3ml đã qua sử dụng và 50.000đ (BL 08).

Tiến hành cân xác định trọng lượng chất bột màu trắng ký hiệu Q bị thu giữ có trọng lượng là 347,96g và trọng lượng chất bột màu trắng ký hiệu T bị thu giữ có trọng lượng là 02g (BL 81, 84). Kết luận giám định số 354 ngày 16-8-2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên (BL 83) xác định: Mẫu chất bột màu trắng trong mẫu Q và T gửi đến giám định đều có thành phần Heroin. Kết luận giám định số 874/C54 (TT2) ngày 22-12-2016 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát (BL 160) xác định: Hàm lượng trong các mẫu chất bột mầu trắng ký hiệu AI8 và AI9 gửi giám định lần lượt là 53,0% và 60,2%.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Văn S khai nhận có quen một người đàn ông tên là Q, nhà ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nhờ S chỉ chỗ để mua Heroin. Nếu mua được 01 “bánh” Heroin thì sẽ cho S 2.000.000đ. Do biết Phạm Thanh S1, sinh năm 1974, trú tại xóm P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có Heroin bán, nên ngày 08-8-2016 S đã gọi điện hỏi Sơn mua 01 “bánh” Heroin giá 200.000.000đ. Sơn đồng ý giao cho S 01 “bánh” Heroin bán cho khách và nếu bán được sẽ cho S 5.000.000đ. Sau đó S đã liên lạc với Q thống nhất giá cả, địa điểm và phương thức giao nhận ma túy từ 10 giờ đến 11 giờ ngày 09/8/2016 tại khu vực cầu H. Khoảng 9giờ 30’ ngày 09-8-2016, S đi xe mô tô BKS:20L9- 2306 từ nhà đến chỗ hẹn, đồng thời gọi điện thoại cho Sơn đem ma túy đến. Sau khi nhận 01 “bánh” Heroin của Sơn, S đã lấy ra một ít Heroin gói bằng giấy rồi giấu vào túi áo ngực với mục đích đưa cho Q thử trước, số Heroin còn lại S giấu vào túi quần phía bên phải đang mặc để bán cho Q nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch của Q và chưa đủ căn cứ xác định Sơn là người đã giao số ma túy trên đây cho S.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2016/HSST ngày 10-01-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt Đinh Văn S 20 (Hai mươi) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn tù tính từ ngày 09-8-2016. Phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn S 15.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Ngày 23-01-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên ký Quyết định số 04/KNPT kháng nghị Bản án sơ thẩm trên đây, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn S.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên quan điểm kháng nghị, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn S.

Bị cáo Đinh Văn S không có ý kiến tranh luận gì khác, phần nói lời sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cơ bản nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên theo kết quả giám định tinh chất Heroin thấp hơn nhiều so với khối lượng có thành phần Heroin đã thu giữ. Vì vậy đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Trên cơ sở tài liệu đã được thẩm tra; lời khai của các bị cáo, ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và kết quả tranh luận tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình giao dịch mua bán trái phép 01 “bánh” Heroin như trên. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm;
phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Kết luận giám định và lời khai của người làm chứng, nên có căn cứ xác định: Khoảng 9giờ30’ ngày 09-8-2016, Đinh Văn S đã bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi giao dịch mua bán 01 “bánh” trọng lượng 347,96g hàm lượng Heroin 53% và 02g hàm lượng Heroin 60,2%. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy trên đây của Đinh Văn S đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên, Hội đồng xét xử có nhận xét như sau: Điều 194 Bộ luật hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy đã quy định rõ lượng ma túy mua bán phải là “tinh chất” ma túy chứ không phải là “thành phần chất” ma túy. Khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC - TANDTC - BTP ngày 14/11/2015 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp quy định: Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật. Trong vụ án này, Kết luận giám định số 874/C54 (TT2) ngày 22-12-2016 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát đã xác định: Trong số 347,96g có thành phần Heroin hàm lượng 53% tương đương với 184,418 gam Heroin tinh chất và 02g có thành phần Heroin hàm lượng 60,2% tương đương với 0,12 gam Heroin tinh chất. Như vậy bị cáo S chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với 184,538 gam tinh chất Heroin như quy kết của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ cần giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng nghị số 04/KNPT ngày 23-01-2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HSST ngày 10-01-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn S 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày 09-8-2016. Phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn S 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Đinh Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về