Bản án 82/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 82/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị Tuyết V, sinh năm 1983 (Có mặt)

Địa chỉ: tổ 7, ấp TV, xã VT, huyện T, tỉnh An Giang

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 7, ấp TV, xã VT, huyện T, tỉnh An Giang.

(Đã được tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Châu Thị Tuyết V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn G do quen biết, tự nguyện chung sống năm 2007, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện T, tỉnh An Giang ngày 21/11/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 02 con chung tên Nguyễn M T sinh ngày 06/02/2008 và Nguyễn T D sinh ngày 09/8/2011. Nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh G ăn chơi, đá gà, đánh bài không quan tâm vợ con, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài nên chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.

- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn M T sinh ngày 06/02/2008 và Nguyễn T D sinh ngày 09/8/2011, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn G: Trong qua trinh thụ lý vụ án và hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triêu tâp hợp lệ đương sự đến lần thứ hai nhưng anh G không gửi văn bản ghi ý kiến của bản thân cũng không đến tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh G.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Vic Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ theo các quy định của pháp luật, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Tuyết V. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn M T sinh ngày 06/02/2008 và Nguyễn T D sinh ngày 09/8/2011cho chị Châu Thị Tuyết V tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Văn G có địa chỉ tại ấp TV, xã VT, huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn G.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị Tuyết V với anh Nguyễn Văn G chung sống với nhau từ năm 2007, mặc dù không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện T, tỉnh An Giang ngày 21/11/2007. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Châu Thị Tuyết V, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị V và anh G chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh G không lo làm ăn, không quan tâm vợ con mà chỉ lo ăn chơi, cờ bạc làm cho kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn dẫn đến thường xuyên cự cãi,tình cảm vợ chồng cũng không còn. Vì thương con còn nhỏ chị V cố gắng chịu đựng nhưng anh G vẫn không thay đổi nên chị V và anh G đã ly thân từ tháng 5/2019 cho đến nay. Mặc dù biết chị V nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng anh G cũng không đến liên hệ, không có ý định thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị V để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung. Về phía anh G, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh G, tạo điều kiện cho anh G hàn gắn tình cảm với chị V nhưng anh G không đến tham dự các phiên hòa giải, xét xử và cũng không có văn bản nào nêu ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của chị V. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Châu Thị Tuyết V và anh Nguyễn Văn G đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Tuyết V.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Châu Thị Tuyết V và anh Nguyễn Văn G có 02 con chung tên Nguyễn M T sinh ngày 06/02/2008 và Nguyễn T D sinh ngày 09/8/2011 (hiện đang sống với chị V). Xét yêu cầu xin nuôi con của chị V, Hội đồng xét xử nhận thấy: hiện tại 02 cháu Trường và Duy đang được chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, tại các biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2019, cả 02 cháu Trường và Duy cũng thể hiện nguyện vọng được sống cùng với chị V sau khi cha mẹ cháu ly hôn. Cho nên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và ổn định cuộc sống của 02 cháu Trường và Duy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị V giao 02 cháu Nguyễn M T và Nguyễn T D cho chị V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhưng chị V phải tạo điều kiện cho anh G đến thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Tại phiên tòa hôm nay, chị V không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, khi có điều kiện và tình hình thời gian thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về quan hệ tai san chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chị Châu Thị Tuyết V yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Châu Thị Tuyết V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị Tuyết V được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.

Giấy chứng nhận kết hôn số 43/KH, Quyển số 03/2007 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã VT, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung:

Giao 02 con chung tên Nguyễn M T sinh ngày 06/02/2008 và Nguyễn T D sinh ngày 09/8/2011 (hiện đang sống với chị V) cho chị Châu Thị Tuyết V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.

Chị Châu Thị Tuyết V phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Văn G được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản:

- Về tai san chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận chị Châu Thị Tuyết V va anh Nguyễn Văn G không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Châu Thị Tuyết V va anh Nguyễn Văn G vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Châu Thị Tuyết V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000179 ngày 09 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh An Giang.

5. Chị Châu Thị Tuyết V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:82/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về