Bản án 85/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn và con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 85/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ LY HÔN VÀ CON CHUNG

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 168/2019/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn và con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị D ; địa chỉ: Thôn 7, xã Đ , huyện T , thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lương Văn C ; địa chỉ: Thôn C , xã K , huyện T , thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2019 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Lê Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị D và anh Lương Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K , huyện T , thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 06 tháng 09 năm 2016). Quá trình chung sống hòa thuận đến tháng 5 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh C không quan tâm đến vợ, con. Chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh C .

- Về con chung: Chị D và anh C có hai con chung là Lương Thị Thu T , sinh ngày 10 tháng 8 năm 2017 và Lương Đức T , sinh ngày 18 tháng 3 năm 2019. Hiện nay các con đang ở cùng với chị D . Khi ly hôn, chị D đề nghị được tiếp tục nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị D đề nghị để chị và anh C tự thỏa thỏa thuận giao nhận cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị D trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đề ngày 18 tháng 4 năm 2019 và tại phiên tòa bị đơn anh Lương Văn C trình bầy: Anh C công nhận lời trình bày của chị D về điều kiện, thời gian và nơi đăng ký kết hôn là đúng. Anh C trình bầy mâu thuẫn vợ chồng là do anh mải chơi, không quan tâm đến vợ, con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay. Chị D có đơn xin ly hôn, anh C đề nghị hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy các con.Nếu chị D kiên quyết xin ly hôn thì anh phải đồng ý. Về con chung: Anh C trình bầy vợ chồng có hai con chung, hiện nay các con đang ở cùng với chị D , trường hợp phải ly hôn anh anh C đồng ý để chị D nuôi cả hai con nhưng chị D phải cho anh gặp gỡ con cái. Việc cấp dưỡng nuôi con anh C và chị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh C trình bầy vợ chồng không có tài sản chung.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật. Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền giải quyền vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật và những người tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời khai của chị D tại Tòa án phù hợp với bản sao giấy đăng ký kết hôn mà chị D đã giao nộp cho Tòa án, phù hợp với tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K . Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng chị D và anh C có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị D và anh C có hai con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Lương Văn C cư trú tại xã K , huyện T , thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên có thẩm quyền xét xử vụ án này.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh C đã được xác lập là hợp pháp( Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 06 tháng 09 năm 2016). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị D được ly hôn anh C.

[3]. Về con chung: Chị D và anh C có hai con chung Lương Thị Thu T , sinh ngày 10 tháng 8 năm 2017 và Lương Đức T , sinh ngày 18 tháng 3 năm 2019. Hiện nay các con đang ở cùng với chị D và chị D có yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy, chị D đang trực tiếp nuôi cả hai con chung dưới 36 tháng tuổi, việc nuôi con chung đang ổn định, chị D có đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, tiếp tục giao cho chị D trực tiếp nuôi hai con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D và anh C trình bầy để hai bên tự giao nhận cho nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị D và anh C trình bầy vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị D được ly hôn anh Lương Văn C .

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Thị Thu T , sinh ngày 10 tháng 8 năm 2017 và Lương Đức T , sinh ngày 18 tháng 3 năm 2019; cho đến khi mỗi con đủ mười tám tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lương Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000428 ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Lương Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 85/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn và con chung

Số hiệu:85/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về