Bản án 86/2019/DS-PT ngày 19/03/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 86/2019/DS-PT NGÀY 19/03/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại hội trường xét xử tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2019/TLPT-DS ngày 21 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 111/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1954;

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955;

Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1978;

Chị Ngô Thị D, sinh năm 1982;

Cùng địa chỉ: Ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh BT.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Số 16B1, khu phố 4, phường Ph Kh, Th1 phố B T, tỉnh B T.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1944;

Địa chỉ: Ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Hồng Ch, sinh năm 1949;

Địa chỉ: số 220/11/4, đường L V S, phường 14, Quận 3, Th1 phố H Ch1 M1.

- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T.

Bà Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị Hồng Ch cùng ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch và anh Trần Văn T: Luật sư Nguyễn Văn Th1 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Hoàng V, thuộc đoàn Luật sư tỉnh B T.

Ông D1, bà M1, anh T1, Luật sư Th1 có mặt tại phiên tòa.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2015, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 24/5/2016 của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Th, chị Ngô Thị D và bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Tiến D1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/11/1978, ông Nguyễn Văn N2 có sang nhượng cho ông L thửa đất không có ghi diện tích với giá 80.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T. Ông L đã sử dụng đất này ổn định đến năm 2006 không ai tranh chấp. Năm 1988, vợ ông N2 là Nguyễn Thị Nh chết, đến năm 1997 ông Nguyễn Văn N2 chết. Ông N2 và bà Nh có 05 người con gồm: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị Hồng Ch, Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Thị út N3 (Ông X, ông S1 và bà N3 đã chết không có vợ/chồng, con). Đến năm 2006 thì bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu ông L trả 219m2 đất trong phần diện tích 740m2 thuộc thửa số 1330, tờ bản đồ 5 mà ông đang sử dụng. Vụ án đã giải quyết xong, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ. Căn cứ vào biên bản thi hành án ngày 22/4/2008 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện M C1 đã cắt 219,7m2 cho bà Đ, phần còn lại 520,3m2 Thi hành án giao cho ông L tiếp tục quản lý, sử dụng. Nhưng lợi dụng việc thắng kiện này bà Đ đã chiếm luôn phần còn lại và bán cho ông Trần Văn T1. Do đó, hộ ông L yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch và anh Trần Văn T1 phải trả lại cho hộ ông L diện tích đất theo đo đạc thực tế là 501,8m2 thuộc một phần thửa 347, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị Hồng Ch là bà Nguyễn Thị M1 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha mẹ bà Đ và bà Ch (là ông Nguyễn Văn N2 và bà Nguyễn Thị Nh) để lại và bà Đ đã canh tác phần đất này từ năm 1997 cho đến năm 2008 thì bà Đ chuyển nhượng lại cho anh Trần Văn T1. Anh T1 đã quản lý sử dụng và canh tác từ năm 2008 cho đến nay. Phần đất này do ông Nguyễn Văn N2 đăng ký kê khai nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông L, bà N, anh Th và chị D yêu cầu bà Đ, bà Ch và Anh T1 trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 501,8m2, thuộc thửa số 347b, tờ bản đồ số 27 thì bà Đ và bà Ch không đồng ý vì đây là đất của cha mẹ bà để lại. Đối với giấy thỏa thuận sang nhượng đất ngày 27/11/2008 thì bản án sơ thẩm số 226/2007/DS-ST ngày 28/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện M C1 và bản án phúc thẩm số 143/2008/DS-PT ngày 08/01/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh B T đã xem xét giải quyết và đã thi hành án xong đối với phần đất này. Phần đất hiện nay đang tranh chấp là do bà Đ và ông N2 quản lý sử dụng, sau khi ông N2 chết thì bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng chứ từ trước đến nay ông L không có quản lý sử dụng phần đất này. Đối với phần đất tranh chấp này là của cha mẹ bà Đ cho bà Đ và bà Ch cũng thống nhất không có ý kiến gì.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn T1 trình bày:

Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn N2. Năm 2008 bà Nguyễn Thị Đ bán lại cho anh với giá 70.000.000 đồng với diện tích 750m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 219,7m2. Nay hộ gia đình ông L yêu cầu anh trả lại phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 501,8m2 do anh đang quản lý sử dụng anh không đồng ý. Nhưng nếu Tòa xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì anh không yêu cầu xem xét lại phần tiền anh đã mua đất từ bà Đ, cây trồng và công sức cải tạo đất mà để cho anh và bà Đ tự thỏa thuận giải quyết với nhau và anh cũng không yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này cho anh.

Tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Ông làm tổ trưởng Tổ nhân dân tự quản từ khi đi bộ đội về cho đến nay, ông là người địa phương, sống tại đây từ nhỏ, ông sống gần nhà ông L vì phần đất của ông và phần đất của ông L liền kề nhau và cũng gần phần đất tranh chấp. Ông xác định ông L không có canh tác phần đất tranh chấp mà phần đất này do ông N2 canh tác, sau khi ông N2 mất thì bà Đèo canh tác.

Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, kết quả đo đạc đất được các đương sự thống nhất như sau:

Phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế là 501,8m2 thuộc một phần thửa đất 347 (thửa 347b), tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T. Giá đất theo định giá là 300.000 đồng/m2 không phân biệt vị trí đất. Trên đất có 03 cây dừa loại 3, ngoài ra không có cây trồng hay vật kiến trúc gì khác.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện M C1 N1 đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 111/2018/DS-ST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện M C1 N1, tỉnh B T đã quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 170, Điều 182, Điều 190, Điều 191, Điều 255 và Điều 256 Bộ luật dân sự 2005

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 166, 202, 203 Luật đất đai năm 2013

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch và anh Trần Văn T1 trả lại phần đất qua đo đạc thực tế 501,8m2 thuộc thửa số 347b, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnhB T.

Anh Trần Văn T1 không có yêu cầu gì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và bà Nguyễn Thị Đ nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Đối với phần công sức đóng góp, cải tạo đất, Anh T1 không xác định được giá trị và cũng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết

(Phần đất được thể hiện trong hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M C1 N1 - Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B T thực hiện đo vẽ kèm theo).

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 03/02/2018, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn L vẫn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M C1 N1 theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, công nhận cho ông được quyền sử dụng đất phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích là 501,8m2 thuộc thửa số 347b, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M C1 N1.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L là có căn cứ. Ông L kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của ông L không có cơ sở chấp nhận, về án phí dân sự sơ thẩm, do ông L và bà N là người cao tuổi nên được miễn án phí. Tòa sơ thẩm buộc ông L và bà N phải liên đới với các nguyên đơn khác chịu án phí dân sự sơ thẩm là không phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử theo hướng không Chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M C1 N1; điều chỉnh phần nghĩa vụ chịu án phí: không buộc ông L và bà N phải liên đới chịu án phí, các nguyên đơn còn lại phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B T, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về nguồn gốc đất tranh chấp:

Phần đất đang tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích là 501,8m2 thuộc một phần thửa 347 (thửa 347b), tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T. Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất nguồn gốc phần đất này là của ông Nguyễn Văn N2 (cha của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ). Do đó, xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét giấy thỏa thuận sang nhượng đất lập ngày 27/11/1978

Ông Nguyễn Văn L cho rằng vào ngày 27/11/1978, ông có nhận chuyển nhượng phần đất của ông Nguyễn Văn N2, có làm giấy tay, không có ghi diện tích đất chuyển nhượng. Khi làm giấy tay có người làm chứng ký tên, ông N2 và bà Đ có gạch chéo vào. Những người làm chứng của ông L có xác nhận cho rằng việc mua bán giữa ông L và ông N2 thực tế có diễn ra. Tuy nhiên, bị đơn bà Nguyễn Thị Đ không thừa nhận giấy thỏa thuận sang nhượng mà ông L đưa ra, cũng không thừa nhận có việc chuyển nhượng đất như ông L trình bày, đồng thời ông L cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh cho việc sang nhượng đất giữa ông với ông N2. Do đó, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông L về việc có sang nhượng đất của ông N2.

Quá trình sử dụng đất, phía nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận cây lá trên phần đất tranh chấp là do bà Đ sử dụng. Mặt khác, nguyên đơn cho rằng theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất lập ngày 27/11/1978 thì ông N2 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 347 (thửa 347a và thửa 347b) cho ông Nguyễn Văn L, nhưng tại bản án dân sự sơ thẩm số 226/2007/DS-ST ngày 28/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày và bản án dân sự phúc thẩm số 143/2008/DS-PT ngày 08/01/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh B T không thừa nhận giấy thỏa thuận sang nhượng đất lập ngày 27/11/1978 giữa ông L với ông N2 và đã công nhận phần đất thuộc thửa 347a có diện tích là 226,9m2 (thửa cũ là một phần thửa 1330 có diện tích là 219,7m2) cho bà Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Thị Hồng Ch.

Mặt khác, tại công văn số 212/UBND-TP ngày 24/10/2013 của Ủy ban nhân dân xã C S có nội dung: “Căn cứ vào biên bản đo đạc giao đất thi hành án ngày 24 tháng 8 năm 2008 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M C1 (nay là huyện M C1 N1), biên bản ghi: Việc đo đạc giao đất cho bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch được thi hành đúng như bản án đã tuyên. Ngoài diện tích đã giao theo bản án là 219,7m2 thì phần đất còn lại trước đây người nào quản lý sử dụng thì người đó tiếp tục sử dụng. Căn cứ vào hồ sơ địa chính đang quản lý tại xã thì thửa 1330 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S do ông Nguyễn Văn N2 đứng tên và trên thực tế thì con ông N2 là bà Nguyễn Thị Đ thường trú tại ấp L1 Tr, xã C S đang quản lý sử dụng”.

Do đó, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông L về việc có sang nhượng đất của ông N2, Tòa sơ thẩm không Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch và anh Trần Văn T1 phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất theo đo đạc thực tế là 501,8m2 thuộc một phần thửa 347, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh B T là có căn cứ. Ông L kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông L.

[3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Phần đất tranh chấp bà Đ đã chuyển nhượng cho Anh T1 vào năm 2008 và hiện nay do anh Trần Văn T1 đang quản lý, sử dụng nhưng Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này mà để anh và bà Đ tự thỏa thuận sau khi bản án đã có hiệu lực nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Đối với phần công sức đóng góp, cải tạo đất, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo nguyên đơn trình bày thì nguyên đơn quản lý canh tác phần đất này từ năm 1978 đến năm 2006 nhưng không có công sức đóng góp, cải tạo đất. Đến năm 2008 thì Anh T1 quản lý phần đất này, anh có bơm cát và trồng 03 cây dừa loại 3 nhưng Anh T1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về công sức cải tạo đất, giá trị phần cát san lấp và anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết mà để anh và bà Đ tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B T là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M C 1 N1.

[7] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Riêng những nguyên đơn còn lại là anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng do ông L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 111/2018/DS-ST ngày 22/11/ 2018 của Tòa án nhân dân huyện M C1 N1, tỉnh B T.

Cụ thể tuyên:

1. Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Hồng Ch và anh Trần Văn T1 trả lại phần đất qua đo đạc thục tế có diện tích là 501,8m2 thuộc thửa số 347b, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp L1 Tr, xã C S, huyện M C1 N1, tỉnh BT.

2. Ghi nhận anh Trần Văn T1 không có yêu cầu gì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và bà Nguyễn Thị Đ và không yêu cầu phần công sức đóng góp, cải tạo đất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này Anh T1 có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

3. Chi phí tố tụng:

Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D phải liên đới chịu chi phí đo đạc, định giá tài sản tranh chấp là 1.982.700 đồng (Một triệu chín trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm đồng). Ghi nhận ông L, bà N, anh Th và chị D đã nộp xong.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.336.000 đồng (Hai triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002935 ngày 24/5/2016 và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0019833 ngày 15/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M C1 N1, tỉnh B T. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Th và chị Ngô Thị D số tiền tạm ứng án phí là 2.236.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

5. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2019/DS-PT ngày 19/03/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:86/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về