Bản án 86/2019/HS-ST ngày 04/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 86/2019/HS-ST NGÀY 04/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2019/TLST-HS ngày 26/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/QĐXX-HS ngày 24/5/2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hùng C (tên gọi khác Nguyễn Đình C), sinh năm 1981; nơi cư trú: Số nhà 190, đường N, tổ 41B, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Đ (đã chết) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1959; Bị cáo không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Quyết định số 826/QĐ-UB ngày 06/4/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng. Lý do: trộm cắp tài sản. Đến tháng 4/2006 chấp hành xong.

+ Quyết định số 1136/QĐ-CT ngày 07/12/2006 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 12 tháng. Lý do: Nghiện ma túy, đến tháng 12/2007 chấp hành xong.

+ Ngày 26/02/2009 Công an phường Đề Thám, thành phố Thái Bình quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp. Hình thức phạt: Cảnh cáo

+ Quyết định số 511 ngày 31/3/2009 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình về việc áp dụng đưa vào trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội, trong thời hạn 12 tháng. Lý do: Nghiện ma túy. Đã chấp hành xong ngày 01/4/2010.

+ Quyết định số 2149/QĐ - UBND ngày 14/9/2010 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình về việc áp dụng đưa vào trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội, trong thời hạn 12 tháng. Lý do: Nghiện ma túy, chấp hành xong ngày 15/9/2011.

+ Quyết định số 2014/QĐ - UBND, ngày 27/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc đưa người vào cơ sở giáo dục, trong thời hạn 24 tháng. Lý do: trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 28/7/2014.

Bị tạm giữ từ ngày 15/02/2019, chuyển tạm giam ngày 21/02/2019, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

- Ông Lê Xuân T, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà 10, ngõ 64, đường T, tổ 15, phường P, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

- Anh Trần Đức L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà 19, Tổ 48, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 15/02/2019, tại đường V thuộc khu vực tổ 38, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện Nguyễn Hùng C có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma túy nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của người chứng kiến là ông Lê Xuân T và anh Trần Đức L, Nguyễn Hùng C tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước của mình giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Nguyễn Hùng C khai nhận đó là Hêrôin C tàng trữ mục đích để bản thân sử dụng, nguồn gốc là do trước đó khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, trên đường V thuộc khu vực tổ 38, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hùng C mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) giá 500.000 đồng và đang đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. Tổ công tác đã niêm phong tang vật, yêu cầu Nguyễn Hùng C và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình để làm việc. Qua kiểm tra, tổ công tác thu tại túi quần hậu bên phải của Nguyễn Hùng C số tiền 4.000 đồng, ngoài ra không phát hiện thu giữ gì thêm. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng để điều tra, xử lý.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hùng C tại số nhà 190, đường N, tổ 41B, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình. Qua khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09, ngày 15/02/2019 kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đình C (Nguyễn Hùng C), sinh năm 1981, trú tại số nhà 190, đường N, Tổ 42, phường K, thành phố B, ngày 15/02/2019” gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3213 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm mười ba gam).

Tại cơ quan điều tra người chứng kiến là ông Lê Xuân T và anh Trần Đức L trình bày: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/02/2019, tại đường V thuộc khu vực tổ 38, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, ông T và anh L chứng kiến Nguyễn Đình C tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước của Nguyễn Hùng C giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Công an mở kiểm tra bên trong đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Nguyễn Đình C khai nhận đó là Hêrôin do khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu vực ngõ nhỏ trên đường V, Tổ 38, phường K, thành phố B, Nguyễn Đình C mua giá 500.000 đồng của 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết họ tên, địa chỉ mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong 01 gói ma túy này, đưa Nguyễn Đình C và mời ông T, anh L về trụ sở Công an phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại đây Công an kiểm tra trên người Nguyễn Hùng C nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 82/CT-VKSTP ngày 25/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Hùng C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 15/02/2019, tại đường V thuộc khu vực tổ 38, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hùng C có hành vi tàng trữ trái phép 0,3213 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm mười ba gam), loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, không có chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng c từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 15/02/2019. Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định; tịch thu số tiền 4.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hùng C để nộp ngân sách nhà nước nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Hùng C xác định cáo trạng truy tố bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng tội, đúng pháp luật vì vậy bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Thái Bình lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 15/02/2019; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09, ngày 15/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của người chứng kiến là: ông Lê Xuân T và anh Trần Đức L; Cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 15/02/2019, tại đường V thuộc khu vực tổ 38, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hùng C có hành vi tàng trữ trái phép 0,3213 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm mười ba gam) ma túy, loại Hêrôin (Hêrôin) mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo phải nhận thức rõ tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song với mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, bị cáo tàng trữ ma túy loại Hêrôin có khối lượng 0,3213 gam phù hợp với khối lượng ma túy cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...; c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội là nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép 0,3213 gam Hêrôin. Vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh bằng pháp luật.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên cần xem xét khi quyết định hình phạt. Song cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[5]. Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người lao động tự do,thu nhập không ổn định lại nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về nguồn gốc số ma túy. Bị cáo Nguyễn Hùng C khai mua ma túy của 01 người phụ nữ không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp.

[7]. Đối với số tiền 4.000 đồng quản lý của bị cáo Nguyễn Hùng C. Tại phiên tòa bị cáo khai có ý dùng số tiền này mua xi lanh để sử dụng ma túy, do đó cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy loại Hêrôin do bị cáo tàng trữ trái phép hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hùng C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Bị cáo Nguyễn Hùng C có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng C (tên gọi khác Nguyễn Đình C) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/02/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định thu của bị cáo Nguyễn Hùng C và bao gói.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.000 đồng quản lý của bị cáo Nguyễn Hùng C.

3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hùng C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/6/2019.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2019/HS-ST ngày 04/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:86/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về