Bản án 87/2017/DS-ST ngày 22/09/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 87/2017/DS-ST NGÀY 22/09/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 384/2017/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ M, sinh năm: 1968; nơi cư trú: ấp M, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre; có mặt.

- Bị đơn: Bà Hồ L, sinh năm: 1973; nơi cư trú: ấp M, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04/9/2017, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 14/9/2017, nguyên đơn là ông Võ M trình bày:

Ông và bị đơn là bà Hồ L chung sống với nhau vào năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian nhưng cách đây khoảng 04 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà L có quan hệ với người đàn ông khác ở bên ngoài. Do đó, vợ chồng thường xảy ra bất hòa, dù ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng bà L vẫn không thay đổi. Nay ông cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên ông có yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà L là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, ông và bà L có 01 người con chung là Võ T, sinh năm 1995 hiện là người thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân. Ông M khai ông và bà L có tài sản chung nhưng không tranh chấp; ông và bà L không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai, biên bản hòa giải, bị đơn là bà Hồ L trình bày:

Bà đồng ý và thống nhất với lời trình bày của ông M về thời gian chung sống, ông bà không có đăng ký kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, bà không đồng ý về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn như ông M trình bày. Tại vì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông M có quan hệ với người phụ nữ khác và bà đã bắt gặp nhiều lần nên vợ chồng xảy ra cự cãi, bất hòa. Dù vậy, trước yêu cầu xin ly hôn của ông M thì bà không đồng ý vì hiện nay bà và ông M đã lớn tuổi và con trai của ông bà cũng sắp lập gia đình. Trong quá trình chung sống, bà và ông M có một phần tài sản chung. Tuy nhiên, ông bà không tranh chấp. Bà L có ý kiến khi nào ông M và bà cùng đồng ý giao tài sản cho con trai là Võ T thì bà sẽ đồng ý ra đi vì con.

Do ông M và bà L không có đăng ký kết hôn nên Tòa án chỉ hòa giải về con chung và tài sản chung. Tuy nhiên, cháu Võ T hiện là người thành niên, tự lao động sinh sống được, ông M và bà L đều không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến trình bày như trên. Các đương sự đều thống nhất tài sản chung 02 bên tự thỏa thuận, không tranh chấp nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện sau, ông bà không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ M và bà Hồ L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao -Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 9, Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa ông Võ M và bà Hồ L không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[2]. Về con chung: Ông Võ M và bà Hồ L có 01 con chung tên là Võ T, sinh năm 1995, hiện là người thành niên, tự lao động sinh sống được.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử ghi nhận việc ông Võ M và bà Hồ L không tranh chấp về tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét. Nếu sau này hai bên có tranh chấp về tài sản chung thì được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp là 300.000 đồng. Ông M đã nộp đủ án phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ Tư pháp; các Điều 9, 14, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Võ M và bà Hồ L là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông Võ M và bà Hồ L có 01 con chung là Võ T, sinh năm 1995, hiện là người thành niên, tự lao động sinh sống được.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận việc ông M và bà L không tranh chấp về tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.

Nếu có tranh chấp về tài sản chung thì được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông M phải chịu tiền án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011995 ngày 05 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; ông M đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


122
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về