Bản án 88/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 88/2019/HS-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường xét xử - Toà án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2019/TLST - HS, ngày 11 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2019/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn Th, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1994 tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 21, khu Núi gạc, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Bùi Thị Ư; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 19/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Trần L, sinh năm 1987 Địa chỉ: Tổ 36, khu 10, phường Q, thành phố U, Quảng Ninh. Vắng mặt

-Những người chứng kiến:

Anh Lê Đình C, sinh năm 1982 Địa chỉ: Tổ 1, khu Bạch Đằng 1, phường P, thành phố U, Quảng Ninh. Vắng mặt

Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1983 Địa chỉ: Tổ 13b, khu 4, phường Q, thành phố U, Quảng Ninh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 35 phút ngày 19/4/2019, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Uông Bí phối hợp cùng Công an phường P, thành phố U đang làm nhiệm vụ tại tổ 2, khu H, phường P, thành phố U đã phát hiện, bắt quả tang Lê Văn Th có hành vi tàng trữ trong lòng bàn tay phải của Th 01 gói giấy màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong gói giấy chứa chất tinh thể màu trắng. Th khai đó là ma túy Ketamine vừa mua để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của Th 01 chiếc điện thoại Iphone màu trắng - vàng gắn 01 sim; 01 điện thoại Nokia màu đen gắn 01 sim; 01 điện thoại samsung màu đen - vàng gắn 01 sim; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng gắn 01 sim; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14Y1.194.47 và số tiền 559.000đ Tại bản Kết luận giám định số 330/GĐMT ngày 23/4/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi thu Lê Văn Th là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,539 gam.

Tại bản cáo trạng 82/CT-VKSUB ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Văn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Th khai nhận: Chiều ngày 19/4/2019, Th cùng các bạn là Nguyễn Văn Long, Đào Ngọc Kiên ngồi uống rượu ở nhà anh Long. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14Y1.194.47 của anh Long chở Long và Kiên đến quán bar Paradise tại phường Yên Th, thành phố Uông Bí ngồi chơi nghe nhạc. Ngồi một lúc thì anh Kiên bảo Th “xuống Phương Nam lấy ít “ke” về anh em mình chơi” rồi đưa cho Th 1.000.000 đồng. Th hiểu ý là Kiên bảo Th đi mua ma túy Ketamine về cùng sử dụng. Kiên còn lấy chiếc điện thoại di động Iphone màu vàng - trắng của anh Long đang để trên bàn, gọi điện cho ai đó nói gì không rõ. Rồi Kiên đưa cả chiếc điện thoại này cho Th bảo gọi theo số điện thoại Kiên vừa gọi để lấy “ke”. Trong lúc đó, anh Long cũng ngồi cạnh nhưng có nghe thấy gì không thì Th không rõ. Th cầm tiền và điện thoại, điều khiển xe mô tô một mình đi mua ma túy. Khi Th gọi điện, người đàn ông bán ma túy nói đang ở xa, cho Th số điện thoại của một người phụ nữ để hẹn lấy ma túy. Th gọi thì người phụ nữ này hẹn đến khu vực nhà máy xi măng Lam Thạch thuộc phường Phương Nam, thành phố Uông Bí để lấy ma túy. Khi đến điểm hẹn, Th gặp và đưa cho người phụ nữ đó 1.000.000 đồng rồi nhận lại 01 gói ma túy Ketamine. Th cầm trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe để quay trở lại quán Paradise. Khi đến khu vực cổng nhà máy xi măng Lam Thạch thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, thu giữ gói ma túy và các tài sản như biên bản bắt người phạm tội quả tang đã thể hiện.

Anh Nguyễn Văn Long khai do say rượu nên khi ngồi ở bar Paradise không biết Th và Kiên trao đổi với nhau nội dung gì. Việc Th tự lấy điện thoại của anh đi anh cũng không biết còn xe mô tô thì Th đã mượn anh từ chiều ngày 19/4/2019 và vẫn cầm chìa khóa xe. Tiến hành đối chất, anh Kiên không thừa nhận việc đưa tiền và bảo Th đi mua ma túy về cùng sử dụng Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có quan điểm và lời trình bày giống như trong quá trình điều tra.

Người chứng kiến là anh Lê Đình C và anh Hoàng Văn Th, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Trần L có lời khai phù hợp với nội dung của vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Th về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Th từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 19/4/2019.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị trả lại cho bị cáo số tiền 559.000đ nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đề nghị trả cho anh Lê Trần L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0971.699.020.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng: của Cơ quan điều tra Công an thành phố thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố không có khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố thành phố Uông Bí, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều khoản áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là anh Lê Đình C, anh Hoàng Văn Th là những người vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định. Những chứng cứ trên đã làm rõ thực tế khách quan về thời gian, địa điểm cũng như quá trình thực hiện tội phạm của vị cáo. Nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 35 phút ngày 19/4/2019, tại tổ 2, khu Hợp Thành, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, Lê Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,539 (một phẩy năm ba chín) gam túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố và kết luận về hành vi đối với bị cáo Th là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo Th còn có thể bị phạt một khoản tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ sung Ngân sách Nhà nước, xét thấy bị cáo không có thu nhập, đang bị tạm giam nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án::

- 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 330/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh - đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu cho tiêu huỷ.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 14Y1-194.47; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng - vàng gắn 01 sim Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Long phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen - vàng gắn 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn 01 sim là tài sản hợp pháp của bị cáo Th, Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo (bà Bùi Thị Ước là mẹ đẻ của bị cáo Th nhận thay) phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0971.699.020 là tài sản hợp pháp của anh Lê Trần L, nên trả lại cho anh Long là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Số tiền 559.000đ (Năm trăm năm mươi chín nghìn đồng) là tài sản hợp pháp của bị cáo Th nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Th hiện không xác định được tên, tuổi, nơi cư trú; các anh Nguyễn Văn Long, Đào Ngọc Kiên quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định đồng phạm với bị can Lê Văn Th nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo Lê Văn Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Lê Văn Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 19/4/2019.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 330/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh; (Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 7 năm 2019 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí).

Trả lại cho anh Lê Trần L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0971.699.020 (Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 7 năm 2019 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí).

Trả lại cho bị cáo số tiền 559.000đ (Năm trăm năm mươi chín nghìn đồng). (Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, bảng thống kê tiền tang vật ngày 15 tháng 7 năm 2018 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí). Nhưng tạm giữ số tiền 559.000đ (Năm trăm năm mươi chín nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Buộc bị cáo Lê Văn Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Lê Văn Th, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 22 tháng 8 năm 2019.

Vắng mặt quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Trần L báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại nơi cư trú.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:88/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về