Bản án 90/2017/HSST ngày 14/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 90/2017/HSST NGÀY 14/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2017/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thế Đ, Sinh năm 1986, tại xã Tr, trú tại thôn 2, Tr Ng, xã Tr, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Nguyễn Thế T và con bà Lê Thị Ph; Có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm2014; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 30/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện  Hoằng Hóa xử phạt 8.000.000đ về hành vi đánh bạc, bị cáo chưa thi hành hình phạt chính. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/7/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Ngưi bị hại: Anh Lê Quang D, sinh năm 1991.

Địa chỉ: thôn 1, Tr Ng, xã Tr, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02h30 ngày 10/7/2017 Nguyễn Thế Đ từ nhà ở thôn 2, xã Tr đi đến thôn 1, xã Tr để ăn đêm khi đi đến đoạn đường gần nhà ông Lê Quang L, SN 1960 quan sát thấy gia đình ông L không khóa cửa nhà nên Đ nảy sinh ý định đột nhập vào nhà với mục đích trộm cắp tài sản. Đ trèo tường vào nhà và lên tầng 2 để tìm kiếm tài sản, Đ nhìn thấy chiếc điện thoại iphone 6s đang sạc pin trên đầu giường ngủ của anh Lê Quang D(con trai ông L ). Thấy anh D ngủ; Đ lén lút rút dây xạc điện khỏi khỏi điện thoại, lấy đi chiếc điện thoại iphone 6s của anh D và đi xuống tầng 1 thì bị anh D phát hiện hô la bà Nh(mẹ anh D) và anh Lê Quang H( anh Trai D) tỉnh giấc đuổi theo Đ ra đến khu vực góc sân thì Đ bị trượt ngã; Đ đứng dậy trèo tường ra ngoài, do tay cầm điện thoại nên không bám được tường; Đ ném chiếc điện thoại iphone 6s vào góc sân và trèo tường ra ngoài chạy về nhà minh. Bà Nh, anh H và anh D lấy xe mô tô đuổi theo bắt giữ được Đ và báo cáo với Ban công an xã Tr. Nhận được báo cáo Ban  công an xã Tr đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và  giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra và trong giai đoạn truy tố, Nguyễn Thế Đ khai báo: Để lấy tiền chi tiêu cá nhân Đ đã đột nhập vào nhà ông Lê Quang L để trộm cắp chiếc điện thoại di động iphone 6s của anh Lê Quang D thì bị bắt quả tang. Theo báo cáo của người bị hại chiếc điện thoại di động iphone 6s do Định trộm cắp anh mua tháng 1 năm 2017 = 8.200.000đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 165 ngày 11/07/2017 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoằng Hóa trị giá chiếc điện thoại  iphone 6s Đ trộm cắp = 5.500.000đ ( Năm triệu năm trăn nghìn đồng nghìn ); Cơ quan điều tra Công an Hoằng Hoá đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. Ngoài vật chứng thu giữ trả cho bị hại, quá trình khám nghiệm hiện trường CAHH còn thu giữ 01 đôi dép nhựa màu xanh nhãn hiệu AAA dài 26cm, rộng 10cm của Nguyễn Thế Đ và chuyển giao chi Chi cục THA dân sự Hoằng Hóa.

Tại bản cáo trạng số 93/VKS-HH ngày 28/8/2017 củaViện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá đã truy Nguyễn Thế Đ về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà kiểm sát viên duy trì công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2013/HĐTP ngày  06 tháng 11 năm 2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu xanh và buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận: Khoảng  02h30  ngày  10/7/2017 Nguyễn Thế Đ đang đi ăn đêm khi đi ngang qua nhà ông L,quan sát thấy nhà ông Lê Quang L không khóa của nhà nên đã trèo tướng đột nhập vào nhà L với mục đích để trộm cắp tài sản. Nguyễn Thế Đ đi từ tầng 1 lên tầng 2 để tìm kiếm tài sản và nhìn thấy chiếc điện thoại iphone 6s đang sạc pin trên đầu giường ngủ của anh Lê Quang D (con ông L). Thấy anh D ngủ; Đ lén lút rút dây xạc điện, lấy chiếc điện thoại iphone 6s của anh D đi xuống tầng 1 thì bị anh D phát hiện, truy đuổi thì bắt giữ được Đ và báo cáo với Ban công an xã Tr. Theo kết luận của Hội đồng định giá thì chiếc điện thoại iphon 6s trị giá 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm ngàn đồng).

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai trước đây của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với báo cáo của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Về hành vi của Nguyễn Thế Đ có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất vụ án: Quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ nhưng Nguyễn Thế Đ đã lợi dụng sự sơ hở, lén lút đột nhập vào nhà người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Bị cáo đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử về tội đánh bạc, bị cáo chưa chấp hành hình phạt chính và phần án phí dân sự điều đó thể hiện bị cáo không có sự tự giác, không biết ăn năn hối cải nên cần phải xử lý thật nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 8.000.000đ về hành vi đánh bạc chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp của anh Lê Quang D Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Đôi dép nhựa mầu xanh đã cũ do bị cáo để lại hiện trường không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Đ phạm tội " Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt:  Bị cáo Nguyễn Thế Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 10/7/2017.

Về vật chứng: Điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đôi dép nhựa màu xanh, kích thước 26x10cm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 93 ngày 31/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thế Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng)  án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyênán, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


41
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về