Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 07/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 07 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2019/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2019, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 332/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/9/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Kim H, sinh năm 1985;

Đa chỉ: ấp M, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.

Bị đơn: Anh Đoàn Văn N, sinh năm 1978;

Đa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Đoàn Kim H trình bày:

Chị Đoàn Kim H và anh Đoàn Văn N tự nguyện kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mỏ Cày N.

Sau khi cưới, vợ chồng chị sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh N hay đi chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vợ con, chị khuyên nhiều lần nhưng anh không từ bỏ nên vợ chồng ly thân từ đầu năm 2019 đến nay không hàn gắn được.

Vợ chồng chị có một con chung tên Đoàn Văn N, sinh ngày 01/9/2006, hiện cháu N đang sống với anh N.

Tài sản chung, nợ chung không có.

Do vợ chồng chị không còn tình cảm yêu thương nhau nữa nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung, chị H đồng ý để anh N trực tiếp nuôi cháu N, chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đoàn Văn N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Kim H.

Phát biểu quan điểm về vụ án tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng và đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng.

Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Kim H.

Về con chung: Giao cho anh N được quyền trực tiếp nuôi con, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Kim H và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại các điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Theo xác nhận đề ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Công an xã H, huyện M thì bị đơn Đoàn Văn N hiện đang đăng ký thường trú và cư trú tại ấp P, xã H, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo trình tự sơ thẩm.

Xét thấy bị đơn Đoàn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng anh Nhân vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh N là phù hợp.

[2] Về nội dung giải quyết:

Xem xét, giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Kim H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Đoàn Kim H và anh Đoàn Văn N tự nguyện kết hôn năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M nên hôn nhân của chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, chị H và anh N sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ly thân từ đầu năm 2019 đến nay không hàn gắn được và chị H khởi kiện xin ly hôn, nguyên nhân theo chị H là do anh N không chí thú làm ăn phát triển kinh tế gia đình mà hay chơi bời, không quan tâm đến vợ con.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho hai bên đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng anh N không chấp hành. Điều này cho thấy anh N không có thiện chí đoàn tụ và mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; đồng thời anh N cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.

Về con chung: Vợ chồng chị H và anh N có một con chung tên Đoàn Văn N, sinh ngày 01/9/2006, hiện cháu N đang sống với anh N và ông bà Nội cháu. Theo biên bản về việc lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 12/8/2019 thì cháu N mong muốn được sống chung với anh N. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu N và ý chí tự nguyện của cháu, Hội đồng xét xử giao cho anh N được quyền trực tiếp nuôi cháu N là phù hợp. Anh N không có yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

[3] Về án phí: Chị Đoàn Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Kim H.

Chị Đoàn Kim H được ly hôn với anh Đoàn Văn N. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung:

Anh Đoàn Văn N được quyền trực tiếp nuôi con tên Đoàn Văn N, sinh ngày 01/9/2006, hiện cháu N đang sống chung với anh N.

Anh N không có yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

Về án phí: Chị Đoàn Kim H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0003774, ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án huyện Mỏ Cày Nam là đủ.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 07/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về