Bản án 91/2017/HSST ngày 14/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 91/2017/HSST NGÀY 14/09/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 14 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2017/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2017 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn K; Sinh năm 1983 tại Thanh Hóa; Trú tại: xóm 4, xã T, huyện S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 02/7/2017 đến nay, bị cáo có mặt.

Ngưi bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

- Bà Mai Thị Đ, sinh năm 1969 (đã chết).

Ngưi đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 14h00 ngày 02/7/2017 trên Quốc lộ 1A, Nguyễn Văn K (có giấy phép lái xe hạng C số 380178007688, do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 04/5/2017), điều khiển xe ôtô biển số 36C-181.18, bên ghế phụ có anh Nguyễn Hữu T, ở phường Đ, thành phố T (chủ xe), đi theo hướng Hà Nội-Thanh Hóa. Khi đến Km312+650 địa phận xã Hoằng Q, huyện H. K điều khiển xe trong làn đường bên phải dành cho xe cơ giới (giáp với làn đường dành cho xe thô sơ). Kiên phát hiện xe môtô biển số 36F1-150.60 do chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 ở xã L điều khiển, chở mẹ đẻ là bà Mai Thị Đ đi phía trước, bên phải cùng chiều, theo hướng điều khiển ôtô của K. Lúc này, K nhìn qua gương chiếu hậu thấy có xe ôtô tải chạy trong làn đường bên trái (giáp với dải phân cách cứng giữa đường) đang vượt, K vẫn không giảm tốc độ mà đánh lái sang phải nhường đường cho xe xin vượt nên đã đâm va vào xe môtô 36F1-150.60 do chị Nguyễn Thị H điều khiển, làm chị H và bà Đ bị ngã xuống đường, bị thương, được đưa đi Bệnh viện đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa cấp cứu nhưng bà Mai Thị Đ đã tử vong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và phương tiện xác định như sau: Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 15h10’ngày 02/07/2017 xác định hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km312+650 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận xã Hoằng Q, huyện H, mặt đường quốc lộ rải nhựa được chia làm hai chiều đường riêng biệt ngăn cách bởi dải phân cách cứng ở giữa, mỗi chiều đường được chia làm ba làn đường, hai làn dành cho xe cơ giới rộng 7,0m, một làn dành cho xe thô sơ rộng 2,0m. Hiện trường vụ tai nạn xảy ra ở phần chiều đường theo chiều từ Hà Nội-thành phố Thanh Hóa. Tại hiện trường có hệ thống biển báo hiệu đường một chiều. Lấy mép đường bên trái đường vào nhà máy Z111 ở phía bên phải chiều đi thành phố Thanh Hóa là mốc chuẩn. Lấy mép đường nhựa bên phải theo chiều từ Hà Nội đi thành phố Thanh Hóa là mép đường chuẩn cho các chỉ số đo. Từ mốc chuẩn dóng đo vuông góc về phía nam 14,6m tại hiện trường vụ tai nạn để lại vết cà không liên tục (vết 1) vết dài 11,8m, rộng 0,01m, vết theo chiều Đông bắc - Tây nam, đo từ điểm đầu của vết đến mép đường chuẩn là 2,2m, điểm cuối của vết nằm tại vị trí trục bàn để chân trước bên trái của xe môtô BKS 36F1-150.60 đang ngã nghiêng bên trái. Dóng đo vuông góc từ điểm đầu của vết 1 trên về phía nam 6,4m tại hiện trường để lại vết bám dính chất màu nâu đỏ (dạng máu) vết có kích thước (0,4mx0,3m) đo từ tâm của vết đến mép đường chuẩn là 2,6m. Đo vuông góc từ tâm của vết (2) trên về phía nam 3,0m là vị trí trục bánh sau của xe môtô biển số 36F1-150.60 đang nằm ngã nghiêng bên trái ở phần lề đường và phần đường dành cho xe thô sơ bên phải theo chiều đi thành phố Thanh Hóa, đầu xe quay hướng Tây bắc đuôi xe quay hướng Đông nam, đo từ trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 0,3m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,8m. Dóng đo vuông góc từ trục bánh sau của xe mô tô 36F1-150.60 về phía nam 95,2m là vị trí xe ôtô BKS 36C-181.18 đang dừng đậu tại khu vực trước sân cửa hàng xăng dầu xã Hoằng Quý, song song với trục đường nhựa, đầu xe quay hướng nam, đuôi xe quay hướng bắc, hạ đo vuông góc từ trục bánh trước bên trái của xe đến mép đường chuẩn là 2,6m, đo từ trục bánh sau bên trái đến mép đường chuẩn là 2,1m.

Tại bản kết luận giám định số 1671/PC54 ngày 12/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện mặt ngoài đầu mút bên phải Bađờxốc trước, cách mặt trước Bađờxốc trước 11,5cm xe ôtô BKS 36C-181.18 với mặt sau ngoài đầu mút ốp nhựa tay nắm bên trái xe môtô BKS 36F1-150.60. Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ôtô BKS 36C-181.18 và xe môtô BKS 36F1-150.60 chuyển động cùng chiều. Xe ôtô BKS 36C-181.18 ở bên trái và có vận tốc lớn hơn so với xe môtô BKS 36F1-150.60. Vị trí va chạm giữa hai xe nằm trước đầu vết cà (1) được thể hiện trên sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường, thuộc làn đường phía ngoài hướng Hà Nội đi Thanh Hóa. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm. Tại Kết luận giám định số 1627/GĐPY-PC54 ngày 06/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận nguyên nhân chết của bà Mai Thị Đính là đa chấn thương.

Trong vụ án này còn có chị Nguyễn Thị H cũng bị thương do Nguyễn Văn K gây ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã trưng cầu giám định nhưng chị H từ chối đi giám định nên không có căn cứ để xử lý đối với K về phần thương tích của chị H.

Về dân sự: Sau khi phạm tội Nguyễn Văn K đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bà Mai Thị Đ số tiền 150.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp người bị hại và chị H không yêu cầu bồi thường gì  thêm.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 8 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Chấp nhận việc thỏa thuận tự nguyện bồi thường của hai bên, số tiền là 160.000.000 đồng, đã bồi thường xong.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất và được cải tạo giáo dục tại địa phương.

Người bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chấp nhận việc bồi thường dân sự đã xong, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bản tự khai, lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người đại diện hợp pháp người bị hại, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14h00 ngày 02/7/2017 trên Quốc lộ 1A, Nguyễn Văn K là lái xe, có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ôtô biển số 36C-181.18, đi theo hướng Hà Nội - Thanh Hóa. Đến Km312+650 thuộc địa phận xã Hoằng Q, huyện H, K điều khiển xe trong làn đường bên phải dành cho xe cơ giới (giáp với làn đường dành cho xe thô sơ). Kiên phát hiện xe môtô biển số 36F1-150.60 do chị Nguyễn Thị H ở xã Cầu Lộc điều khiển, chở bà Mai Thị Đ đi phía trước, bên phải cùng chiều, theo hướng điều khiển của K. Lúc này, K nhìn qua gương chiếu hậu thấy có xe ôtô tải chạy trong làn đường bên trái (giáp với dải phân cách cứng giữa đường) đang vượt, K vẫn không giảm tốc độ mà đánh lái sang phải nhường đường cho xe xin vượt nên đã va chạm vào xe môtô 36F1-150.60 do chị Nguyễn Thị H điều khiển làm chị H và bà Đ bị ngã xuống đường. Chị H bị thương và bà Đ được đưa đi Bệnh viện đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa cấp cứu nhưng sau đó đã tử vong.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K vi phạm quy định về điều khiển ôtô gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K đã xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ, sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Văn K biết rằng tình hình giao thông hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp, chính quyền các cấp đã phải áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông, nhưng bị cáo với ý thức chủ quan, không làm chủ tốc độ phương tiện, lấn chiếm làn đường, tránh xe cho xe chạy sau vượt không đúng quy tắc giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại về tính mạng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang cho những người tham gia giao thông. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị cáo tiền sự, tiền án không, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các quy định của khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt và thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra người bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường số tiền 160.000.000 đồng và nay không có yêu cầu gì nên chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên.

Về vật chứng: Giấy phép lái xe số 380178007688 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 04/5/2017 mang tên Nguyễn Văn K trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tun bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.Áp dụng: Khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự; Khoản 4 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 42 tháng (Bốn mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn K ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 Giấy phép lái xe số 380178007688 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 04/5/2017.

Về  án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người đại diện hợp pháp người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


127
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2017/HSST ngày 14/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:91/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về