Bản án 92/2019/DS-ST ngày 09/07/2019 về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 92/2019/DS-ST NGÀY 09/07/2019 VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM

Ngày 09 tháng 07 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2019/DS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2019/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1964

Địa chỉ cư trú: Kênh X, khóm S, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

- Bị đơn: Chị Lê Thị Trúc T, sinh năm 1986.

Đa chỉ cư trú: Khu H, khóm S, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Mã Minh C, sinh năm 1976.

Địa chỉ đăng ký hộ khẩu: khóm M, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Chổ ở hiện nay: Khu H, khóm S, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Thị Tú Q, sinh năm 1991.

Đa chỉ cư trú: Kênh X, khóm S, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời trình bày của các đương sự trong quá tr nh giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện như sau:

Bà Lê Thị L là nguyên đơn trình bày: Bà L xác định bà và ông Việc có 01 người con chung tên Trịnh Thị Tú Q, bà là người đại diện cho ông Việt khởi kiện bà T. Sự việc xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 23/7/2018 tại đường H, khóm B, phường B, Tp. C giữa hai xe mô tô 69K4-2169 do ông Trịnh Văn V là chồng của bà điều khiển va chạm với xe mô tô 69C1-252.44 do chị Lê Thị Trúc T điều khiển, tai nạn xảy ra làm cho ông V tử vong. Theo quyết định không khởi tố vụ án hình sự xác định lỗi thuộc về phía ông V là điều khiển xe mô tô 69K4-2169 đi không đúng làn đường, sai với quy định của luật giao thông đường bộ, xe hiện nay còn tạm giữ tại Công an thành phố Cà Mau. Bà xác định xe mô tô 69K4-2169 do chồng bà điều khiển tại thời điểm xảy ra tại nạn th Bảo hiểm xe đã hết hạn nên không được thanh toán theo chế độ bảo hiểm.

Bà L cho rằng theo kết luật của công an thành phố Cà Mau th ông V là người có lỗi trong vụ tai nạn giao thông với chị T, về nguyên tắc không có quyền yêu cầu chị T bồi thường, nhưng do ông V chết th bà T cũng có phần trách nhiệm nên bà xác định vẫn khởi kiện yêu cầu chị T bồi thường tổng số tiền 113.911.500đ bao gồm tiền mai táng, ma chay, xây mồ mã ... và bồi thường tổn thất tinh thần, cụ thể các khoản như sau:

Về chi phí nơi chôn cất tại Họ Đạo Cà Mau: 20.000.000đ Tiền gạch và công thợ: 11.478.500đ Tiền vật liệu xây dựng: 7.215.000đ Tiền toa đồ liệm+hòm: 18.218.000đ Tiền điều trị tại bệnh viện: 7.000.000đ Tiền ma chay: 20.000.000đ Tiền tổn thất tinh thần: 30.000.000đ.

Tng cộng số tiền là 113.911.500đ (Một trăm mười ba triệu, chín trăm mười một nghìn, năm trăm đồng).

Hiện chị T hỗ trợ cho gia đình bà số tiền 5.000.000đ th bà không đồng ý nhận. Trường hợp chị T đồng ý hỗ trợ cho gia đình bà số tiền 30.000.000đ th bà sẽ nhận và không tiếp tục khởi kiện.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Mã Minh C trình bày: Vụ việc tai nạn giao thông vào ngày 23/7/2018 tại khóm B, phường B, Tp. C giữa hai xe mô tô 69K4-2169 do ông Trịnh Văn V là chồng của Bà L điều khiển va chạm với xe mô tô 69C1-252.44 do vợ của anh là chị Lê Thị Trúc T điều khiển, theo kết luận của công an thành phố Cà Mau th lỗi thuộc về phía ông Việt là do điều khiển xe mô tô 69K4-2169 đi không đúng làn đường, sai với quy định của luật giao thông đường bộ.

Trong vụ tai nạn giao thông chị T không có lỗi, không vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ. Sau khi xảy ra tai nạn chị T bị gãy tay và bị thương phần mềm, phải nằm viện điều trị hơn 01 tháng, nhưng do điều trị có thanh toán bảo hiểm nên không nhớ chi phí điều trị bao nhiêu. Tuy nhiên, do tổn thất không lớn nên chị T không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và cũng không có yêu cầu bồi thường.

Khong 03 ngày sau khi xảy ra tai nạn, chị T mới nhận được thông tin từ Công an cho biết ông Trịnh Văn V chết, khi đó anh và đại diện Công đoàn Chi cục Kiểm Lâm nơi chị T làm việc, có đến viếng và chia buồn với gia đình ông V.

Ngoài ra, trong quá tr nh làm việc tại Công an thành phố Cà Mau th chị T có tự nguyện hỗ trợ cho gia đình ông V số tiền 5.000.000đ và nộp tại Công an thành phố Cà Mau nhưng gia đình Bà L không đồng ý nhận và yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, Công an thành phố Cà Mau đã trả lại số tiền 5.000.000đ cho chị T vào cuối năm 2018.

Căn cứ vào quyết định số 149 ngày 20/9/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra về việc không khởi tố vụ án h nh sự (chị T không có lỗi) nên yêu cầu của bà Lê Thị L là không hợp lý. Anh đại diện chị T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà L về việc yêu cầu chị T bồi thường các khoản chi phí với số tiền là 113.911.500đ. Anh đồng ý việc chị T tự nguyện hỗ trợ chi phí mai táng cho Bà L như trước đây là 5.000.000đ.

Chị Trịnh Thị Tú Q là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị Q xác định chị là con duy nhất của ông V và Bà L, chị thống nhất để cho Bà L là người đại diện gia đình khởi kiện bà T. Chị hoàn toàn thống nhất với lời tr nh bày của mẹ chị là Bà L về việc yêu cầu chị T bồi thường số tiền 113.911.500đ, chị không bổ sung ý kiến g thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện và chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà L về việc yêu cầu chị Thúy bồi thường số tiền 113.911.500đ. Ghi nhận tự nguyện của chị T về việc hỗ trợ chi phí mai táng cho Bà L số tiền 5.000.000đ. Về án phí dân sự sơ thẩm Bà L được miễn theo quy định.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ những chứng cứ đã được thu thập trong qu trình giải quy t vụ n, lời trình bày của c c đương sự và t quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Lê Thị L thuộc lĩnh vực dân sự về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xạm phạm; Chị Lê Thị Trúc T là bị đơn, có nơi cư trú tại khóm S, phường M, Tp. C nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà L xác định, bà và ông Việt chỉ có một người con tên Trịnh Thị Tú Q. Tại phiên tòa Bà L và chị Quỳnh thống nhất để cho Bà L là người đại diện cho gia đình đứng đơn khởi kiện về việc yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại.

Về nội dung:

[2] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật dân sự: Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng th những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Điều này, phù hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo điều luật quy định và hướng dẫn nêu trên, xét thấy mặc dù xe do ông V điều khiển không phải tên chủ sở hữu là do ông V mua từ cơ sở thu hồi xe cũ và không làm thủ tục sang tên, vẫn còn đứng tên của người khác (chị Nguyễn Thị Thanh T ở huyện N). Trong vụ án này ông V là người trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn dẫn đến thiệt hại tính mạng của người điều khiển nên người điều khiển phương tiện phải tự gánh chịu hậu quả do bản thân m nh đã gây ra. Do đó, không đặt ra xem xét trách nhiệm của người điều khiển phương tiện hay chủ sở hữu của xe 69K4- 2169.

[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện của Bà L và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật dân sự quy định người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác th có trách nhiệm bồi thường. Sự việc xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 23/7/2018 tại đường H, khóm B, phường B, Tp.C giữa hai xe mô tô 69K4-2169 do ông Trịnh Văn V là chồng của bà điều khiển va chạm với xe mô tô 69C1-252.44 do chị Lê Thị Trúc T điều khiển, tai nạn xảy ra làm cho ông V tử vong.

Căn cứ vào sơ đồ hiện trường vụ tại nạn giao thông và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông vào ngày 23/7/2018 xác định lỗi thuộc về phía ông V là điều khiển xe mô tô 69K4-2169 đi không đúng làn đường, sai với quy định của luật giao thông đường bộ, chị Thúy điều khiển xe mô tô 69C1-252.44 không có lỗi. Từ kết luận trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra quyết định số 149 ngày 20/9/2019 về việc không khởi tố vụ án hình sự do không có sự việc phạm tội và được Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cà Mau đồng ý theo công văn số 425/CV-VKS ngày 24/9/2018. Cơ quan công an thành phố Cà Mau có thông báo số 21/CQĐT ngày 13/12/2018 cho Bà L được biết sự việc không khởi tố nêu trên.

Theo kết luận, chị T không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông vào ngày 23/7/2018 giữa hai xe mô tô 69K4-2169 do ông Trịnh Văn V (là chồng của Bà L) điều khiển va chạm với xe mô tô 69C1-252.44 do chị Lê Thị Trúc T điều khiển nên yêu cầu của Bà L đối với chị T về việc bồi thường thiệt hại với số tiền số tiền 113.911.500đ bao gồm tiền mai táng, ma chay, xây mồ mã ... và bồi thường tổn thất tinh thần là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Trong quá tr nh giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Chiêu đại diện cho chị Thúy đã tự nguyện hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình Bà L số tiền là 5.000.000đ. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T, đồng thời phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch Bà L được miễn theo quy định.

Vì c c lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 40, 144, 147, 165, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 584, 585, 588, 591, 601 của Bộ luật dân sự;

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí; Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc yêu cầu chị Lê Thị Trúc T bồi thường thiệt hại do tính mạng của ông Trịnh Văn V bị xâm phạm với tổng số tiền 113.911.500đ (bao gồm tiền mai táng, ma chay, xây mồ mã ... và bồi thường tổn thất tinh thần).

Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc hỗ trợ cho gia đình Bà L số tiền mai táng phí và tổn thất tinh thần là 5.000.000đ.

Kể từ ngày Bà L có đơn yêu cầu thi hành án, chị Thúy phải thi hành xong khoản tiền trên, trường hợp chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm lãi phát sinh trên số tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành theo Điều 468 của Bộ luật dân sự và Luật thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm chị T không phải nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm Bà L thuộc trường hợp được miễn, không phải nộp (thuộc trường hợp được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí nên bà được miễn án phí).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại iều 30 Luật thi hành án dân sự.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về