Bản án 93/2017/HSST ngày 27/10/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 93/2017/HSST NGÀY 27/10/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27-10-2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2017/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Châu Cẩm H (có tên gọi khác là L), sinh năm 1977; Nơi cư trú: Số 163/7A đường T, Khóm 1, Phường 5, thành phố  S, tỉnh  Sóc Trăng; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu H (chết) và bà Lưu Thị Minh H; Có chồng và 01 con; Tiền sự: không; Tiền án: không; Bị bắt, tạm giam ngày 17-7-2017; (có mặt)

* Những người bị hại:

1. Ông Trần Đ, sinh năm 1942; (vắng mặt)

2. Bà Lý Kim H, sinh năm 1941; (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Số 136 đường L, Khóm 4, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Chí H, sinh năm 1969;

Nơi cư trú: Số 21 đường P, Khóm 2, Phường 1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

(vắng mặt)

* Người làm chứng: Ông Trần Lý Vĩnh Đ, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Số 136 đường L, Khóm 4, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Châu Cẩm H (L) bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Châu Cẩm H là người làm công giúp việc nhà cho gia đình ông Trần Đ và bà Lý Kim H tại số 136 đường L, Khóm 4, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Vào khoảng ngày 16-01-2017, do thiếu nợ không có tiền trả, nên H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà H để bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Với ý định đó, H lợi dụng lúc chỉ có một mình bà H ở nhà và ngồi đọc báo ở phòng khách không để ý, H đến chỗ để chìa khóa và lén lút lấy chùm chìa khóa đi lên lầu mở cửa phòng ngủ của bà H và mở tủ lấy ra một túi vải màu đỏ, bên trong túi có 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,6 chỉ có gắn một hột đá (hột xoàn) kích thước 5,5 ly; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,78 chỉ có gắn hột đá kích thước 4,2 ly; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,84 chỉ có gắn 06 hột đá kích thước mỗi hột đá 3,2 ly; 01 sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 4,36 chỉ và 01 mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 18k trọng lượng 0,83 chỉ có gắn 01 hột đá kích thước 5,5 ly. H lấy 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,6 chỉ có gắn một hột đá kích thước 5,5 ly và 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,84 chỉ có gắn 06 hột đá kích thước mỗi hột đá 3,2 ly bỏ vào túi áo khoác đang mặt còn số tài sản còn lại H bỏ vào tủ khóa lại rồi đi ra khỏi phòng và để chìa khóa lại chỗ cũ rồi đi về. Sau khi lấy được 02 chiếc nhẫn, H đem đến dịch vụ cầm đồ Minh C tại số 21 đường P, Khóm 2, Phường 1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cầm 01 chiếc nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,84 chỉ có gắn 06 hột đá kích thước mỗi hột đá 3,2 ly cho anh Lưu Chí H là chủ tiệm với giá 1.400.000đ và tiêu xài hết.

Khoảng 02 ngày sau, H đến nhà bà H làm công, cũng với cách thức và thủ đoạn như trên, sau khi làm vệ sinh nhà thì H lén lút vào phòng bà H mở tủ lấy thêm 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,78 chỉ có gắn hột đá kích thước 4,2 ly; 01 sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 4,36 chỉ và 01 mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 18k trọng lượng 0,83 chỉ có gắn 01 hột đá kịch thước 5,5 ly cất giấu vào người rồi đi về. Sau khi lấy được tài sản H đến dịch vụ cầm đồ Minh C bán chiếc nhẫn đã cầm trước đó để lấy thêm 300.000đ.

Đến ngày 18-01-2017, H đến dịch vụ cầm đồ Minh C cầm tiếp 01 nhẫnvàng 18k trọng lượng 1,6 chỉ có gắn một hột đá kích thước 5,5 ly với số tiền2.700.000đ. Sau đó, H tiếp tục đến dịch vụ cầm đồ Minh C cầm 01 sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 4,36 chỉ và 01 mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng18k  trọng lượng  0,83  chỉ  có  gắn  01  hột  đá kịch  thước 5,5  ly với  số  tiền5.000.000đ, H  còn  tiếp tục đến  dịch  vụ cầm đồ  Minh  C  lấy thêm số  tiền4.000.000đ và bán luôn sợi dây chuyền với số tiền là 1.200.000đ.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông Đ và bà H nghi ngờ do H lấy trộm nên vào ngày 16-02-2017, ông Đ và bà H đến nhà của H yêu cầu H đến nhà của ông Đ để hỏi làm rõ số tài sản bị mất, thì H đã thừa nhận là người đã lấy trộm số tài sản trên nên bà H trình báo công an xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL.ĐGTS ngày 21/02/2017 của của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố S kết luận:

- Một chiếc nhẫn đeo tay vàng 18k, trọng lượng 1,6 chỉ với số tiền là 1,6 chỉ x 2.578.000đ = 4.124.800đ; Một hột xoàn kích thước 5,5 ly với số tiền là 01 x 41.500.000đ = 41.500.000đ;

- Một chiếc nhẫn đeo tay vàng 18k, trọng lượng 0, 78 chỉ với số tiền là 0,78 chỉ x 2.578.000đ = 2.010.840đ; Một hột xoàn kích thước 4,2 ly với số tiền là 01 x 6.700.000đ = 6.700.000đ;

- Một chiếc nhẫn đeo tay vàng 18k, trọng lượng 0,84 chỉ với số tiền là 0,84 chỉ x 2.578.000đ = 2.165.520đ; Sáu hột xoàn kích thước 3,2 ly với số tiền là 06 x 4.500.000đ = 27.000.000đ;

- Một sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 4,36 chỉ, với số tiền là 4,36 chỉ x 2.578.000đ = 11.240.080đ.

- Một mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 18k, trọng lượng 0,83 chỉ, với số tiền là 0,83 chỉ x 2.578.000đ = 2.139.740đ;

- Một hột xoàn  kích thước 5,5 ly, với số tiền là 01 x 41.500.000đ =41.500.000đ;

Tổng cộng là 138.380.980đ.

Tại Cáo trạng số 79/QĐ-KSĐT ngày 06/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Châu Cẩm H (L) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e Khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Châu Cẩm H (L) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e Khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Châu Cẩm H (L) phạm tội“Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm e Khoản 2 Điều 138; điểm g Khoản 1 Điều48; điểm o, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa, ông Trần Đ và bà Lý Kim H là những người bị hại vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xem xét lời khai của người bị hại tại các biên bản ghi lời khai thì ông Đ và bà H thừa số tài sản bị mất là do bị cáo lấy trộm. Nay không yêu cầu bồi thường và yêu cầu xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, ông Lưu Chí H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xem xét lời khai của người liên quan tại các biên bản ghi lời khai thì ông H thừa nhận có cầm và mua số vàng do bị cáo đem đến nhưng ông không biết là do bị cáo phạm tội mà có

Tại phiên toà, bị cáo Châu Cẩm H (L) thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Châu Cẩm H (L) đã khai nhận như sau:

Do đang thiếu nợ và không có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2017 đến ngày 10/02/2017, bị cáo đã hai lần lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của những người bị hại ông Trần Đ và bà Lý Kim H, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của những người bị hại tại nhà số 136 đường L, Khóm 4, Phường 3, thành phố S gồm: 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,6 chỉ có gắn một hột xoàn kích thước 5,5 ly, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,78 chỉ có gắn một hột xoàn kích thước 4,2 ly, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,84 chỉ có gắn 06 hột xoàn kích thước mỗi hột xoàn là 3,2 ly, 01 sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng4,36 chỉ và 01 mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 18k trọng lượng 0,83 chỉ cógắn 06 hột xoàn kịch thước 5,5 ly rồi đem đến dịch vụ cầm đồ Minh C để cầm và bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài hết.

Đối với hành vi của bị cáo Châu Cẩm H (L) đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của những người bị hại, bị cáo đã 02 lần lén lút chiếm đoạt được tổng cộng tài sản là 03 nhẫn đeo tay vàng 18k có gắn hột xoàn các loại, 01 sợi dây chuyền vàng 18k và 01 mặt dây chuyền vàng 18k có gắn 01 hột xoàn. Qua định giá tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 138.380.980đ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Châu Cẩm H (L) phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e Khoản 2Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần, vì trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2017 đến ngày 10/02/2017, bị cáo đã thực hiện 02 lần chiếm đoạt tài sản, mỗi lần chiếm đoạt tài sản có giá trị trên hai triệu đồng, nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Cần áp dụng điểm g Khoản 1Điều 48 của Bộ luật Hình sự để xem xét tăng nặng một phần hình phạt đối với bịcáo.

Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo tự khai ra lần phạm tội trước. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm o, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Lưu Chí H là người nhận cầm và mua số vàng của bị cáo đem đến, nhưng ông không biết tài sản là do bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan Điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Đ và bà Lý Kim H là những người bị hại không yêu cầu bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức trung bình của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên  bố  : Bị cáo Châu Cẩm H (L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm e Khoản 2 Điều 138; điểm g Khoản 1 Điều 48; điểm o, pKhoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Châu Cẩm H (L) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-7-2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Đ và bà Lý Kim H là những người bị hại không yêu cầu bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội

Buộc bị cáo phải nộp là 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2017/HSST ngày 27/10/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:93/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về