Bản án 94/2018/HNGĐ-ST ngày 05/09/2018 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 94/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/09/2018 VỀ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Ngày 05 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2836/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc L; nơi cư trú: Cộng hòa Liên bang Đức; vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy T; nơi cư trú: Số 11/125 đường TH, phường TC, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn là chị Phạm Thị Ngọc L trình bày: Năm 2006, chị Phạm Thị Ngọc L ly hôn với anh Nguyễn Huy T tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 65A/QĐGQVDS ngày 27 tháng 6 năm 2006 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định về nuôi con chung là giao cho anh Nguyễn Huy T trực tiếp nuôi con Nguyễn Công H, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2002, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận. Sau khi ly hôn anh T là người trực tiếp nuôi con theo quyết định của Tòa án, con chung phát triển bình thường. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay vì điều kiện công việc nên anh T thường xuyên vắng nhà, viêc lam và thu nhập không ổn định, vì vậy việc nuôi con không đảm bảo được quyền lợi cho con. Nên chị đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Công H cho chị là mẹ đẻ được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự giao nhận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai, bị đơn là anh Nguyễn Huy T trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chị L về quá trình ly hôn và giải quyết về con chung trước đây của anh chị. Nay vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn anh thường xuyên phải đi làm xa nhà, thu nhập không ổn định, thời gian quan tâm chăm sóc con không có, nay chị L có điều kiện kinh tế hơn, có nhiều thời gian chăm lo đến con hơn đảm bảo quyền lợi cho con hơn, mặt khác chị L có đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con, anh T đồng ý. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con thì giữa anh và chị L sẽ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Phạm Thị Ngọc L đang ở nước ngoài và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Huy T có mặt giữ nguyên quan điểm như trong các bản tự khai. Chị Phạm Thị Ngọc L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa xét thấy:

 [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Ngọc L hiện đang cư trú ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

 [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Phạm Thị Ngọc L hiện đang sinh sống ở nước ngoài, chị có đơn gửi về Việt Nam, tài liệu của chị đã được Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức chứng thực. Trong đơn chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bà Đỗ Thị Châm nhận các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Ngọc L .

 [3] Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của chị Phạm Thị Ngọc L: Các đương sự đều khai sau khi ly hôn anh Nguyễn Huy T là người trực tiếp nuôi con Nguyễn Công H, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2002. Trong thời gian nuôi con anh T vẫn đảm bảo mọi quyền lợi cho con, con chung phát triển bình thường. Nay vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn anh thường xuyên phải đi làm xa nhà, thu nhập không ổn định, thời gian quan tâm chăm sóc con không có. Như vậy, lời khai của đương sự là thống nhất và nếu anh T tiếp tục nuôi con thì ít nhiều quyền lợi của con cũng sẽ bị ảnh hưởng. Xét, chị Phạm Thị Ngọc L hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, có công việc, có thu nhập ổn định, có thời gian quan tâm chăm sóc con nên việc nuôi con cũng sẽ đảm bảo quyền lợi cho con. Hơn nữa, cháu Nguyễn Công H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Như vậy, việc chị Phạm Thị Ngọc L đề nghị thay đổi nuôi con và anh Nguyễn Huy T chấp nhận giao cho chị Phạm Thị Ngọc L trực tiếp nuôi con Nguyễn Công H là hoàn toàn chính đáng. Căn cứ các điều 71, 81, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu chị Phạm Thị Ngọc L về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

 [4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Cả chị Phạm Thị Ngọc L và anh Nguyễn Huy T đều thống nhất tự giao nhận cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [5] Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc L là nguyên đơn tự nguyện chịu án phí sơ thẩm nên hội đồng xét xử chấp nhận.

 [6] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Phạm Thị Ngọc L và anh Nguyễn Huy T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 71, Điều 81, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc L.

Giao cho chị Phạm Thị Ngọc L trực tiếp nuôi con Nguyễn Công H, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2002 cho đến khi con trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Ngọc L và anh Nguyễn Huy T thông nhât tư giao nhân không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0010799 ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ.

3.Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Phạm Thị Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Nguyễn Huy T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


63
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về