Bản án 95/2017/HNGĐ-ST ngày 15/09/2017 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 95/2017/HNGĐ-ST NGÀY 15/09/2017 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN 

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2017, về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 03  tháng  8 năm 2017 và Quyết  định  hoãn phiên tòa số: 45/2017/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1996; cư trú tại ấp Tốc, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Lý Tấn Đ, sinh năm 1993; cư trú tại ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2017 của chị Nguyễn Thị Tuyết P và quá trình tố tụng tại Tòa án chị P trình bày: Chị và anh Lý Tấn Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển. Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do bất đồng quan điểm, lối sống, dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc nên chị P yêu cầu ly hôn với anh Đ.

Về phần con chung có 1 người tên Lý Gia H, sinh ngày 29/7/2013 đang ở cùng chị P, sau khi ly hôn chị P yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về phần tài sản chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lý Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết P được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã triệu tập anh Lý Tấn Đ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Đ vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lý Tấn Đ.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tuyết P và anh Lý Tấn Đ được xác lập vào năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa chị P và anh Đ được xác định là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng lẫn nhau và đã kéo dài không giải quyết được. Thời gian đã qua, đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu nhằm xoa diệu mâu thuẫn để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, trong khi đó phía anh Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt điều đó cho thấy bản thân anh Đ không có thiện chí để hàn gắn. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị P được ly hôn với anh Đ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Chị P và anh Đ có một người con tên Lý Gia H, sinh ngày 29/7/2013 đang ở cùng chị P và vẫn phát triển bình thường, để không làm xáo trộn môi trường sống cũng như căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nên chấp nhận giao con cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Anh Đ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về chia tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết P là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị P đã nộp.

[8] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt anh Lý Tấn Đ.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Tuyết P được ly hôn với anh Lý Tấn Đ.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết P được nuôi con tên Lý Gia H, sinh ngày 29/7/2013 đang ở cùng chị, phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Anh Lý Tấn Đ có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Nguyễn Thị Tuyết P.

Về chia tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Nguyễn Thị Tuyết P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị P đã nộp tạm ứng án phí  300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013655 ngày 01/6/2017 được khấu trừ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 95/2017/HNGĐ-ST ngày 15/09/2017 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:95/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về