Bản án 95/2017/HSST ngày 04/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 95/2017/HSST NGÀY 04/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 8  năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN DUY T (tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1990, tại Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố 2, phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt từ ngày 16/12/2016, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 22 giờ ngày 15/12/2016, Nguyễn Duy T gặp Nguyễn Văn L (sinh năm 1988, trú tại khu phố 3, phường Phú Hài, TP Phan Thiết) tại tiệm internet không tên ở phường Phú Hài, qua trò chuyện L biết là T hết heroin để sử dụng nên dự định đi mua heroin vì vậy L đưa cho Nguyễn Duy T 1.000.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng) để T đi mua heroin dùm cho L và được T đồng ý mua giùm. Khoảng 07 giờ 00 ngày 16/12/2016, Nguyễn Duy T đi xe buýt từ thành phố Phan Thiết đến thị xã Lagi tìm người mua ma túy. T hỏi thăm thì được một người nghiện dẫn đến gặp một người tên Ba (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 02 gói ma túy với giá 1.900.000 đồng. Mua xong, T đón xe buýt về lại bến xe Nam Phan Thiết. Trong thời gian T đi mua ma túy, L ngồi uống cà phê tại quán Làng Chài (thuộc khu phố 1, phường Phú Hài, TP Phan Thiết), do đã gửi tiền cho T và T nói ngày 16/12/2016 sẽ đi mua ma túy nên L nghĩ T đã mua được ma túy. Do đó, khoảng 13 giờ L dùng điện thoại số 0937931904 gọi vào máy điện thoại gắn sim số 01633153929 của Nguyễn Duy T hỏi T về Phan Thiết chưa, T trả lời đã về đến Bến xe Nam Phan Thiết nên nhờ L chở về giùm. L mượn xe môtô biển số 86F5 – 8146 của bạn tên Nguyễn Minh N (sinh năm 1988, trú tại khu phố 2, phường Phú Tài, TP Phan Thiết) đi chở T. Trên đường đi T gọi cho L hỏi L đã đến chưa thì L nói là L đang đến. Khi đến nơi L gọi điện cho T, T bắt máy nhưng không trả lời và bước ra từ quán cà phê gần Bến xe Nam Phan Thiết, L chở T về phường Phú Hài, TP Phan Thiết. Khi L điểu khiển xe môtô biển số 86F5 – 8146 chở Tấn đi đến đoạn trạm thu phí Phú Hài (thuộc khu phố 2, phường Phú Hài, TP Phan Thiết) thì bị lực lượng Phòng chống ma túy của Đồng biên phòng Thanh Hải theo dõi, kiểm tra phát hiện T đang tàng trữ 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng nén được hàn kín hai đầu, kích thước 03 cm x 2,9 cm và 2,1 cm x 1,5 cm dựng trong 01 hộp nhựa Bigbabol, ngoài ra còn thu giữ một số tang vật khác. Tại Đồn biên phòng Thanh Hải, lực lượng Phòng chống ma túy đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của T, đồng thời T cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 02 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng nén được hàn kín hai đầu, kích thước 03 cm x 2,9 cm và 2,1 cm và 1,5 cm được đựng trong hộp nhựa Bigbabol (thu giữ từ Nguyễn Duy T, T khai đó là ma túy mua về để sử dụng)

- 01 điện thoại di động, hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Duy T (thu giữ từ Nguyễn Duy T)

- 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng; 02 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng; 01 ví da màu vàng; 02 ống kim tiêm để sử dụng ma túy; 01 dao lam (tất cả thu giữ từ Nguyễn Duy T)

- 01 xe môtô biển số 86F5 – 8146; 01 điện thoại Qmobile màu trắng đã qua sử dụng; 01 dao lam (thu giữ từ Nguyễn Văn L)

Tại Bản kết luận giám định số 720/KLGĐ-PC54 ngày 17/12/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,5295 gam, là Heroin.

Hiện vật chứng của vụ án là mẫu vật sau giám định trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu số 720 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Duy T; 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng; 02 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng; 01 ví da màu vàng; 02 ống kim tiêm để sử dụng ma túy; 02 dao lam hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết chờ xử lý.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L đã bỏ trốn khỏi địa phương do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra hành vi của Nguyễn Văn L. Đối với các vật chứng thu giữ từ Nguyễn Văn L là 01 xe môtô biển số 86F5 – 8146; 01 điện thoại Qmobile màu trắng đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý sau.

Về nguồn gốc số ma túy mà T khai mua của đối tượng tên Ba về để tàng trữ sử dụng, do không xác định được nhân thân và T cũng không rõ các đối tượng đó là ai nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 79/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 29/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 01 Điều 194 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 194; điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 xử phạt Nguyễn Duy T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 16/12/2016, Nguyễn Duy T đến thị xã Lagi để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút, khi đang được Nguyễn Văn L chở đi ngang trạm thu phí Phú Hài, thuộc khu phố 2, phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết thì bị lực lượng phòng chống ma túy Đồn biên phòng Thanh Hải – Bộ đội biên phòng tỉnh Bình Thuận kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T đang tàng trữ 2,5259 gam hê rô in.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 01 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo T nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hê rô in là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ…chất ma túy trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội nhưng các bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46 BLHS. Ngoài ra, đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo T theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/7/2017 của Quốc hội thì áp dụng cho bị cáo T khung hình phạt được quy định tại khoản 01 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Đối với Nguyễn Văn L là người đã góp 1.000.000 đồng cho T đi mua ma túy nhưng hiện nay L không có mặt tại địa phương nên quá trình điều tra chưa làm rõ hành vi đồng phạm của L. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an TP.Phan Thiết đã ra thông báo truy tìm và ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra hành vi của Nguyễn Văn L, khi nào làm rõ sẽ tiếp tục xử lý sau.

Đối với đối tượng tên Ba là người mà Nguyễn Duy T khai đã mua ma túy từ Ba để tàng trữ sử dụng, do không xác định được nhân thân và T cũng không rõ các đối tượng đó là ai nên không có căn cứ xử lý.  Đối với 01 xe mô tô biển số 86F5-8146, 01 điện thoại di động Qmobile màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn L, hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố PhanThiết tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý sau.

* Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm 01 phong bì niêm phong ký hiệu số 720 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, 02 ống bơm kim tiêm để sử dụng ma túy, 02 dao lam, 01 ví da màu vàng là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Duy T là giấy tờ cá nhân của bị cáo Tấn nên trả lại cho bị cáo T.

- Số tiền 29.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng: khoản 01 Điều 194; điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 01 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

* Xử phạt: Nguyễn Duy T 24  tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2016.

* Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, b, c khoản 01 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên: - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu số 720 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, 02 ống bơm kim tiêm để sử dụng ma túy, 02 dao lam và 01 ví da màu vàng là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh và số tiền 29.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Duy T là giấy tờ cá nhân của bị cáo.

(Kèm theo biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 11/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền vào tài khoản 3949 tại KBNN tỉnh Bình Thuận của THADS thành phố Phan Thiết ngày 06/7/2017)

* Về án phí: Bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của các bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về