Bản án 95/2019/HSPT ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 95/2019/HSPT NGÀY 01/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 25/2019/TLPT-HS ngày 07/01/2019 đối với bị cáo Phạm Trọng D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 86/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

PHẠM TRỌNG D; sinh năm 1981, tại tỉnh Thái Bình; nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện Th, tỉnh Thái Bình; chỗ ở trước khi phạm tội: Xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Phạm Thế D và bà Phạm Thị P; có vợ là Lê Thị N, có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Đình G; trú tại: Xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Trọng D cùng với anh Nguyễn Đình G, anh Nguyễn Văn L, anh Vỹ Chí A làm thuê, trông coi việc trồng khoai lang cho anh Đỗ Xuân N và ở tại lán trại thuộc xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Khoảng 07 giờ ngày 26/10/2018 anh G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49F1-40x.xx đến thành phố B để gặp anh N mượn số tiền 150.000.000 đồng gồm 03 cọc tiền mỗi cọc gồm 100 tờ tiền loại polime mệnh giá 500.000 đồng mục đích để mua khoai lang. Sau khi nhận tiền từ anh N thì anh G để tiền trong cốp xe mô tô rồi về lại lán trại để cất số tiền trên vào túi xách (loại túi đựng laptop) để trong phòng ngủ.

Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, D đi làm về thấy anh G đang nằm trên giường ở phòng ngoài của lán trại, D đi vào phòng trong, thấy túi xách của anh G nên mở khóa xem thì thấy 03 cọc tiền nêu trên, D liền lấy 03 cọc tiền này bỏ vào túi quần của mình và mang ra bụi cỏ cách lán trại 03m để cất giấu.

Khoảng 13 giờ cùng ngày D đến nơi giấu tiền trước đó để lấy tiền, D có rút ra 1.000.000 đồng trong 2 cọc tiền rồi cất giấu vào túi quần, số tiền còn lại để trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 47K1-5xxx. D điều khiển xe đến nhà chị Nguyễn Thị Huyền T, ở xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là bạn của D để nhờ chị T chuyển số tiền  149.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng cho D và chị T đồng ý, sau đó D trở về lán trại.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKS, ngày 15 tháng 11 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Phạm Trọng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 86/2018/HSST ngày 30/11/2018 Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Trọng D 03(Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 27/10/2018, chuyển tạm giam ngày 30/10/2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.

Ngày 07/12/2018, bị cáo Phạm Trọng D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ đã có thời gian phục vụ trong quân đội nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Trọng D, sửa bản án sơ thẩm đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Trọng D mức án 03 (Ba) năm tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, tranh luận gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 26/10/2018, bị cáo Phạm Trọng D đã thực hiện hành vi trộm cắp 150.000.000 đồng của anh Nguyễn Đình G. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [2] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình G, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh của xã hội tại địa phương. Xét mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cho rằng sau khi bị phát hiện bị cáo đã cung cấp cho cơ quan điều tra thẻ ATM, rút số tiền để khắc phục hậu quả; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội là tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt là phù hợp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

 [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Phạm Trọng D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trọng D.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 86/2018/HS-ST, ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Trọng D 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 27/10/2018. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Trọng D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


41
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 95/2019/HSPT ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:95/2019/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:01/03/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về